Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

HIEP THONG va CAU NGUYEN cho nhau !






Thế giới
Thứ Sáu, 22/01/2010, 16:41 (GMT+7)

Bão lớn ập vào California

TTO - Cơn bão thứ tư trong vòng một tuần qua đổ bộ vào khu vực miền nam bang California (Mỹ) đang gây ngập lụt tại nhiều nơi, trong đó có thành phố Los Angeles.
Một người đàn ông chèo chiếc thuyền phao trên đại lộ Bennett ở Long Beach - Ảnh: AP


BBC cho biết mưa lớn kéo dài hàng giờ, những con sóng cao tới 7,6 m đã phá hủy các bờ biển ở California, và gây ngập lụt nặng tại nhiều con đường.

Chiều qua 21-1, các nhân viên nhà nước đã đi đến từng nhà ở Los Angeles để kêu gọi người dân di tản.

Lở đất tại vùng La Canada Flintridge - Ảnh: Getty Images
AP đưa tin một số con đường cao tốc ở California đã bị tắc nghẽn do bị bão và lốc xoáy tàn phá. Gió mạnh khiến nhiều sân bay phải tạm hủy hàng chục chuyến bay. Bão tố đã để lại vệt tàn phá dọc cộng đồng vùng tây bắc Los Angeles.


Dòng xe chạy trên xa lộ Long Beach Freeway ngập nước - Ảnh: Getty Images

AP cho biết ở quận Cam, lính cứu hỏa đã cứu thoát một cậu bé 14 tuổi bị trôi trên sông Santa Ana, tuy nhiên không tìm thấy người bạn của cậu cũng mắc nạn trên sông. Ở khu Newman, hai người bị chết do cây đổ, và cảnh sát vẫn đang tìm kiếm thi thể một người đàn ông mắc nạn khi cố lái xe qua một con đường ngập nước. Ở San Jose, một người đàn ông thiệt mạng trong một vụ tai nạn trên đường cao tốc trơn trượt do mưa to. Ở San Diego, cảnh sát kịp cứu ba người bị trôi trên sông.


Mưa lớn khiến các con đường ở La Jolla, California ngập nước - Ảnh: Reuters

Lốc xoáy đã phá hủy nhiều hệ thống đường dây điện, đẩy 30.000 người lâm vào cảnh mất điện, trong đó có 4.100 người ở Los Angeles. Sở cứu hỏa Los Angeles cũng cảnh báo lở đất, lũ quét cũng có thể đe dọa sinh mạng của người dân sống ở các khu sườn đồi phía bắc Los Angeles.

“Với những người sống trong các khu vực có nguy cơ, nhiều khả năng chúng tôi không thể tiếp cận với họ”, AP dẫn lời ông John Tripp thuộc Sở cứu hỏa Los Angeles. Dù vậy, phần lớn người dân đã di tản theo đề nghị của chính quyền.

Sóng lớn đánh vào bãi biển Ocean Beach - Ảnh: Reuters


HIẾU TRUNG

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Hay hoc cung Ta, vi Ta hien lanh va khiem nhuong trong long - Loi Thay Giesu Kito




Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà.
Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt.
Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy
đi nghĩ lại. Nhưng điều gay go nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.


Người gửi: Trường Simêôn tạiNazaret
> Ngưòi nhận: Ông Bà Giuse và Maria

> Nội dung: Học bạ của Giêsu

Toán học: Hầu như chẳng làm được
bài toán nào,ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần.
Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định
rằng mình cộng với Cha thành một.

Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết
đến lớp, đành phải viết trên cát.

Địa Lý: Không có khái niệm về phương
hướng. Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi
một con đường để về nhà Cha thôi.

Hóa Học: Không chịu làm các bài tập
thí nghiệm gì cả, nhưng có lần Cậu đã làm cho
nước hóa ra rượu nho khiến người ta cự nự nhau trong đám cưới.

Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người,
lại ngang nhiên biểu diễn đi trên nước.

Văn Học: Khó có thể nói năng rõ ràng,
nói gì cũng bằng dụ ngôn.

Vấn Đáp: Mới 12 tuổi mà Cậu đã đối đáp
với các luật sĩ và kinh sư trong đền thờ khiến họ hết sức ngạc nhiên.

Kỷ Luật: Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc,
rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng có được một viên đá gối đầu!

> Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích giao du trò
> chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.
>
> Vệ Sinh: Nhổ xuống đất hòa thành bùn rồi
> bôi lên mắt người ta tức thì họ được sáng mắt.

> Sinh Vật: Dám quả quyết người ta sống không nguyên bởi bánh
nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

> Thiên Văn: Là người duy nhất đã thấy Xa-tan
> như một tia chớp từ trời sa xuống.

> Kinh Doanh: Những người được mướn từ sáng sớm
> cậu trả cho họ một quan tiền, và những người
> cậu mướn vào xế chiều cậu cũng trả một quan
> tiền.Chưa hết, bà góa bỏ một xu vào nhà
> thờ, cậu nói bà ta bỏ nhiều nhất.

> Tâm Lý: Cậu nói đừng sợ những kẻ giết
> thân xác mà không giết được linh hồn.
> Đúng hơn, hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả
> hồn lẫn xác trong hoả ngục.

> Lịch Sử: Cậu sẽ xây Hội Thánh của Cậu,
> và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi vì Cậu đã thắng thế gian.

Đọc xong học bạ, ông Giu-se tự nhủ
> rằng tình trạng này không được kéo dài thêm,
> mà cần phải có biện pháp cứng rắn: “Này,
> Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con
> đành phải vác thánh giá
> thôi!”
>


> ************ ********* *********
> *******

> Vậy Ngài đã bảo gì với Cha mình ?


> Ối trời, Cha Giuse ơi, ngày xưa, con học hành khá
> hơn nhiều đó chứ! Thế mà giờ lũ trẻ cứ
> phiên phiến ra như thế! Con chỉ còn một
> viên đá gối đầu thật, nhưng đâu phải là con
> vứt đi các vật dụng, mà là con cho nhà hàng xóm
> đó chứ.
>
> Khi Mẹ Maria may cho con áo mới mặc vào mùa
> xuân. Con thích lắm, nhưng sáng nay, con đi
> dạo chơi quanh làng, thấy cậu bé ở cuối xóm,
> mặc bộ quần áo rách bươm, con nghĩ đồ
> đạc của con còn nhiều, tốt hơn của bạn
> ấy, thế nên, về nhà, con gói ghém và tặng bạn
> ấy. Lần trước, đôi dép mới Cha cho con
> cũng thế. Cha thường dạy, chia sẻ như thế
> là rất tốt phải không Cha?
>
> Con không bao giờ phân biệt kẻ nghèo, người
> giàu. Con thích giao tiếp với những người
> bị khinh bỉ, bỏ rơi.
>
> Nhiều người nghĩ con là người điên, nhưng cha
> biết con rất tỉnh táo, phải không cha? Và
> cha vui vì điều đó. Cha luôn dạy con phải
> biết yêu thương mà.
>
> Bây giờ con buồn ngủ rồi, chúc Cha ngủ
> ngon. Ngày mai, con sẽ nói
> tiếp cho các bạn ấy hiểu, con đã học hành
> như thế nào, cha nhỉ!

>
> Mong rằng học bạ của mỗi người chúng ta, có
> những phần như vậy.
> (Sưu tầm)

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2010

Cac con hay NEN THANH vi CHUA chung ta LA DANG THANH !


19/01/2010 10.54.49



BÉ NHỎ NGHÈO NÀN VÀ THÁNH NỮ TIẾN SĨ HỘI THÁNH








Năm 1997 kỷ niệm 100 năm sinh nhật trên trời của thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU (1873-1897). Năm kỷ niệm đạt đỉnh cao với biến cố Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (1978-2005) tôn phong vị nữ tu Dòng Kín khiêm hạ và trẻ trung lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh, trong Thánh Lễ trọng thể vào Chúa Nhật 19-10-1997 tại quảng trường thánh Phêrô..

Trước đó, nhiều nơi trên thế giới tổ chức các buổi học hỏi về cuộc đời và về sứ điệp của vị nữ thánh. Chẳng hạn bên nước Argentina, thuộc Châu Mỹ Latinh nơi giáo xứ Lanuse, Linh Mục Luis - Cha Sở họ đạo - tổ chức cuộc rước kiệu bức tượng nữ thánh qua các con đường của khu phố nghèo nàn nhất. Vừa đi, đoàn tín hữu rước kiệu vừa hát thánh ca và lần hạt Mân Côi. Sau

buổi rước tất cả các thanh thiếu niên của giáo xứ tập họp lại lãnh phép lành của Cha Sở trước khi giải tán. Sau đó, để đánh dấu một ngày lễ vui của giáo xứ, các em được uống sôcôla nóng và ăn bánh ngọt. Nhưng điều đáng nói nhất là cử chỉ yêu thương trìu mến của Cha Luis đối với các trẻ em nghèo. Cha giơ tay ban phép lành cho từng em, ghé tai nói nhỏ với mỗi em vài lời. Rồi Cha ôm hôn từng em một với trọn tình yêu thương của một người Cha đối với con cái.

Trên trời cao, hẳn Chị thánh Teresa Hài Đồng GIÊSU vui mừng trước khung cảnh cảm động này. Lúc sinh thời Chị thánh rất yêu thương các trẻ em. Phép lạ đầu tiên Chị thánh cầu bầu trước tòa THIÊN CHÚA là chữa lành một em bé 3 tuổi bị câm điếc.

... Tại hai quần đảo Wallis và Futuna bên nước Polynésie thuộc Đại-dương-châu, trong khung cảnh kỷ niệm 100 năm thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU qua đời, có nhiều cuộc hội thảo bàn tròn về ”con đường thơ ấu thiêng liêng” của thánh nữ. Một cặp vợ chồng Công Giáo cũng tham dự các cuộc hội thảo này. Đây là cặp vợ chồng gặp không biết bao nhiêu khó khăn trong đời sống gia đình. Trước hết, họ son sẻ không con cái. Rồi lại bị đau bệnh liên miên và nhiều vấn đề khác. Nhưng nhờ các buổi học hỏi về đời sống thiêng liêng của thánh nữ Teresa họ bắt đầu chấp nhận các thử thách trong niềm tin tưởng phi thường.

Cuộc gặp gỡ tinh thần với thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU như một luồng sáng huy hoàng chiếu dọi vào một tổ ấm phủ đầy bóng tối, chán nản vì đau khổ. Từ đó, người vợ thay đổi hẳn thái độ. Trong môi trường làm việc, chị can đảm nói về thánh nữ Teresa cho các bạn đồng nghiệp. Rồi hai vợ chồng quyết định đi hành hương Lisieux, viếng thăm các nơi từng ghi dấu các vết chân thánh nữ. Cuộc hành hương như mang theo tất cả tâm tình của người dân thuộc hai quần đảo Wallis và Futuna hết lòng mộ mến thánh nữ Teresa thành Lisieux.

... Tại Hoa Kỳ, nơi Tổng Giáo phận New York có một giáo xứ mang tên Áo Đức Bà và thánh Stephano. Giáo xứ do các Cha dòng Cát-Minh coi sóc từ năm 1990. Đây là giáo xứ cổ xưa có từ 150 năm nay. Ngôi thánh đường có lối xây cất tuyệt đẹp, do đại kiến trúc sư gốc Ý tên Costantino Brumidi (1805-1880) thực hiện. Vào thời kỳ đó, người dân vùng này âu yếm gọi kiến trúc sư Brumidi là Buonarrotti MichelAngelo (1475-1564) đệ nhị.

Các Cha dòng Cát-Minh chu đáo chuẩn bị mừng lễ thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU vào ngày 1-10-1997 thật long trọng. Chuẩn bị bằng các bài giảng các buổi tĩnh tâm và nhất là kêu mời mọi người sốt sắng, chẳng những tham dự Thánh Lễ các Chúa Nhật mà cả ngày thường khi hoàn cảnh cho phép. Lời kêu gọi được toàn thể giáo dân trong giáo xứ nhiệt liệt hưởng ứng. Khi đến chính ngày 1-10 bức tượng thánh nữ Teresa Hài Đồng GIÊSU đặt trước bàn thờ được trang hoàng toàn bằng hoa hồng với ba màu sắc: vàng, trắng và đỏ, trông tuyệt đẹp. Sau Thánh Lễ, các cánh hoa hồng được phân phát cho mọi người có mặt trong nhà thờ. Thật là một ngày lễ huy hoàng không phải bằng hình ảnh lộng lẫy bề ngoài cho bằng các ân lành Chị thánh Teresa Hài Đồng GIÊSU cầu bầu trước tòa THIÊN CHÚA tuôn đổ xuống cộng đoàn giáo xứ. Muôn vàn ghi ơn Chị Thánh!

... ”Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào THIÊN CHÚA, và có THIÊN CHÚA làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái. Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được? Ta là THIÊN CHÚA, Ta dò xét lòng người, thử thách mọi tâm can. Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tùy theo cách nó sống và việc nó làm. Con chim quốc ấp trứng nó không đẻ, kẻ làm giàu bất chính nào có khác chi: nửa cuộc đời, nó phải bỏ giàu sang, và rốt cuộc, cũng chỉ là một đứa ngu đần” (Giêrêmia 17,7-11).

(”Dans le SILLON missionnaire”, 1+2+3/1998, trang 15-18)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Xin cho HO NEN MOT !


20/01/2010 17.27.56



Tuy có các vấn đề mới, phong trào đối thoại đại kết đã đạt nhiều tiến bộ.




Trong 50 năm qua cuộc đối thoại đại kết đã đạt nhiều tiến bộ. Có những vấn đề cũ đã mất đi trọng lượng của chúng, nhưng cũng có các vấn đề và các khó khăn mới nảy sinh. Vì thế cần phải luôn kiên trì cầu nguyện để được Chúa thanh tẩy khiến cho chúng ta có khả năng hiệp nhất với nhau.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trước 8.000 tín hữu tham dự buổi gẵp gỡ chung trong đại thính đường Phaolô VI sáng thứ tư 20-1-2010.

Vì đang trong tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu kitô trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã đề cập tới đề tài này. Mở đầu bài huấn dụ ngài nói:
Anh chị em thân mến, chúng ta đang ở trong Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu kitô, một sáng kiến đại kết đã được cấu trúc từ hơn một thế kỷ qua và hàng năm lôi kéo sự chú ý về một đề tài, là sự hiệp nhất hữu hình giữa các kitô hữu, lôi cuốn lương tâm và khích lệ dấn thân của những người tin nơi Chúa Kitô. Nó được thực thi trước hết với lời mời cầu nguyện, noi gương Chúa Giêsu xin Thiên Chúa cha cho các môn đệ Người được hiệp nhất: ”Xin cho chúng nên một để thế giới tin” (Ga 17,21). Việc nhắc nhở kiên trì cầu nguyện cho sự hiệp thông trọn vẹn giữa các người theo Chúa diễn tả hướng đi đích thực và sâu thẳm của toàn phong trào đại kết... Ngoài nỗ lực phát triển các tương quan huynh đệ và thăng tiến đối thoại để minh xác và giải quyết các khác biệt gây chia rẽ giữa các Giáo Hội và các cộng đoàn giáo hội, cần phải cùng nhau tin tưởng khẩn cầu Chúa.

Đức Thánh Cha đã nhắc tới đề tài cho Tuần cầu nguyện năm nay là một câu trong chương 24 Phúc Âm thánh Luca: ”Các con là chứng nhân của tất cả mọi điều ấy”. Chương 24 trình thuật kinh nghiệm gặp gỡ của các môn đệ với Chúa Kitô tử nạn và phục sinh cũng như sứ mệnh làm chứng mà Ngài giao cho họ. Vì thế ”tất cả những điều ấy” trước hết ám chỉ Thập Giá và sự Sống Lại, ám chỉ mầu nhiệm của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chết, sống lại, sống luôn mãi và bảo đảm cho cuộc sống vĩnh cữu của chúng ta. Khi biết Chúa Kitô là chúng ta biết Thiên Chúa, vì Chúa Kitô là mạc khải của Thiên Chúa.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha khẳng định rằng con người thuộc mọi thời đại đều nhận thức được sự hiện diện của Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa duy nhất nhưng xa vời và không tự tỏ hiện. Nhưng nơi Chúa Kitô Thiên Chúa đã tự tỏ hiện và trở thành gần gũi với con người. Ngài lôi kéo mọi người tới với Ngài và hiệp nhất toàn nhân loại trong thực tại của cuộc sống bất tử.

Nhưng chúng ta có thể làm chứng cho tất cả những điều ấy như thế nào? Chúng ta chỉ có thể là các chứng nhân, khi biết Chúa Kitô và biết Chúa Kitô cũng là biết Thiên Chúa. Việc hiểu biết Chúa Kitô chắc chắn bao gồm một chiều kích trí thức, nhưng nhất là một tiến trình hiện sinh, một tiến trình rộng mở cái tôi, tiến trình của việc biến đổi do sự hiện diện và sức mạnh của Chúa Kitô; và như thế nó cũng là một tiến trình rộng mở cho tất cả mọi người khác, là thân mình của Chúa Kitô. Như vậy hiểu biết Chúa Kitô cũng là một tiến trình biến chúng ta trở thành chứng nhân. Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể là chứng nhân của Chúa Kitô, nếu có kinh nghiệm gặp gỡ riêng tư với Chúa. Giáo Hội đã quy tụ và tóm tắt điều chính yếu mà Chúa đã ban cho trong Mặc Khải, nơi Kinh tin Kính niceno costantinopolitano, là kết qủa của hai Công Đồng Chung (325 và 381). Giáo Lý xác định rằng Kinh tin Kính này ”cho tới nay là chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Đông Phương và Tây Phương (CCC, s.195). Trong Kinh Tin Kinh ấy có các chân lý đức tin mà kitô hữu có thể cùng nhau tuyên xưng và làm chứng để thế giới tin, bằng cách biểu lộ ý muốn tiến bước về sự hiệp thông trọn vẹn, sự hiệp nhất của Thần Mình Chúa Kitô, với ước muốn dấn thân thắng vượt các khác biệt hiện có.

Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu kitô cũng giúp nhìn lại các khía cạnh quan trọng đối với phong trào đại kết. Trước hết là sự tiến bộ lớn đã đạt được trong các tương quan giữa các Giáo Hội và các cộng đoàn giáo hội sau Hội nghị triệu tập tại Edimburg bên Ecốt cách đây một thế kỷ, trong các ngày 13 tới 24 tháng 6 năm 1910. Trong số các đề tài được thảo luận hồi đó có các khó khăn khách quan trong việc loan báo Tin Mừng khi các kitô hữu còn chia rẽ nhau. Phong trào đại kết đã phát triển và trở thành yếu tố quan trọng trong cuộc sống Giáo Hội. Nó không chỉ tạo thuận lợi cho các tương quan huynh đệ giữa các Giáo Hội và Cộng đoàn giáo hội trong việc đáp trả lại giới răn yêu thương, mà còn khích lệ việc tìm hiểu thần học nữa. Ngoài ra nó cũng lôi cuốn cuộc sống cụ thể của các Giáo Hội và cộng đoàn giáo hội liên quan tới mục vụ và cuộc sống bí tích như việc thừa nhận bítích Rửa Tôi của nhau, các vấn đề hôn nhân hỗn hợp vv... cũng như giúp nới rộng các tương quan với các phong trào pentecostal, tin lành và đặc sủng thánh linh để hiểu biết nhau nhiều hơn.

Đề cập tới phần đóng góp của của Giáo Hội Công Giáo cho phong trào đại kết Đức Thánh Cha nói: Từ Công Đồng Chung Vaticăng II trở đi, Giáo Hội công giáo đã bước vào các tương quan huynh để với tất cả các Giáo Hội Đông Phương và các Cộng đoàn giáo hội Tây Phương, đặc biệt bằng cách cùng với đa số các Giáo Hội và Cộng đoàn đó tổ chức các cuộc đối thoại thần học song phương, giúp tìm các tương đồng và đồng thuận trong nhiều điểm cũng như đào sâu các mối dây của sự hiệp thông. Với các Giáo Hội Chính Thống Ủy ban đối thoại thần học hỗn hơp đã nhóm họp khóa XI tại Paphos trên đảo Chypre hồi tháng 10 năm 2009 về một đề tài nòng cốt: ”Vai trò của GM Roma trong sự hiệp thông của Giáo Hội trong ngàn năm thứ nhất”, tức khi các kitô hữu Đông Phương và Tây Phương sống sự hiệp nhất tràn đầy với nhau. Với các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương khác như Copte, Etiopi, Siri, Armeni Ủy ban hỗn hợp đã nhóm họp trong các ngày từ 26 tới 30 tháng giêng năm ngoái.

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Cũng vào năm ngoái Giáo Hội Công Giáo đã cùng với các Cộng đoàn giáo hội Tây Phương duyệt xét các thành qủa đã đạt được trong các cuộc đối thoại kéo dài 40 năm qua, đặc biệt với Cộng đoàn Anh giáo, Liên hiệp Luther thế giới, Liên Minh cải cách thế giới và Hội Methodist thế giới. Hội Đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu kitô đã thực hiện một nghiên cứu liệt kê các điểm tương đồng giúp đối thoại song phương, đồng thời cũng liệt kê các vấn đề còn bỏ ngỏ cần thảo luận trong tương lai.

Đức Thánh Cha đã nhắc tới một vài biến cố gần đây như Tuyên ngôn chung về giáo lý sự công chính hóa giữa Công Giáo và Luther ngày 31 tháng 10 năm 2009 để khích lệ việc tiếp tục đối thoại; chuyến viếng thăm của Đức Tổng Giám Mục Canterbury Rowan Williams và tình hình của Cộng đoàn Anh giáo. Tuy có các vấn đề đối chọi giữa hai bên nhưng dấn thân chung tiếp tục các tương quan và đối thoại là một dấu chỉ tích cực. Trong cuộc đối thoại đại kết có chiều kích trách nhiệm của các tín hữu kitô phải làm tất cả những gì có thể để đạt sự hiệp nhất, nhưng cũng có chiều kích thiên linh, vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban sự hiệp nhất cho Giáo Hội. Các kết qủa thực tế đã đạt được là do sự cộng tác và tình huynh đệ của 50 năm đối thoại đại kết. Nhưng công việc đại kết không phải là một tiến trình theo đường thẳng. Có các vấn đề cũ trong bối cảnh của thời đại khác mất đi trọng lượng của chúng, nhưng cũng có nhiều vấn đề và khó khăn mới nảy sinh. Vì thế phải luôn luôn sẵn sàng đối với tiến trình thanh tẩy để Chúa khiến cho chúng ta có khả năng hiệp nhất với nhau. Đức Thánh Cha xin mọi người tiếp tục cầu nguyện nhiều cho cuộc đối thoại đại kết và ơn hiệp nhất các tín hữu kitô.

Chào các bạn trẻ người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha khuyến khích diễn tả lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất bằng các cử chỉ cụ thể, hoạt động cho hòa bình và hòa giải, dâng khổ đau cầu nguyện cho sự hiệp thông giữa các tín hữu kitô và sống ơn gọi gia đình trong sự tâm đầu ý hợp.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha cho mọi người.


Linh Tiến Khải

Chi mot DUC TIN - mot PHEP RUA - mot THIEN CHUA LA CHA !


19/01/2010 16.46.53



Tuần cầu nguyện cho hiệp nhất các tín hữu Kitô 2010


Một số nhận định của Linh Mục Gino Battaglia, Giám đốc văn phòng đối thoại đại kết và liên tôn của Hội Đồng Giám Mục Italia, về tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu 2010

Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô đã bắt đầu ngày 18-1-2010 và kéo dài cho tới ngày 25-1-2010 rồi kết thúc với buổi hát Kinh Chiều trọng thể do Đức Thánh Cha Biển Đức XVI chủ sự tại đền thờ thánh Phaolô ngoại thành ở Roma. Đề tài của tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô năm nay là ”Chính các con là chứng nhân về tất cả những điều đó...” (Lc 24,48). Đề tài đã do các Kitô hữu Ecốt chọn và tài liệu cho tuần hiệp nhất cũng do các anh chị em Ecốt soạn thảo. Chương 24 Phúc Âm thánh Luca được suy tư trong suốt tuần với các tựa đề: cử hành Đấng đã trao ban cho chúng ta ơn sự sống và sự phục sinh; biết chia sẻ cho người khác lịch sử đức tin của mình; ý thức rằng Thiên Chúa hoạt động trong cuộc sống chúng ta; tạ ơn Chúa về gia tài đức tin đã nhận lãnh; tuyên xưng Chúa Kitô Đấng chiến thắng mọi khổ đau; tìm luôn trung thành với Lời Chúa; trưởng thành trong đức tin đức cậy và đức mến; cống hiến sự tiếp đón và biết tiếp nhận sự tiếp đón.

Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô đã được cử hành lần đầu tiên trong các ngày từ 18 tới 25 tháng giêng năm 1908 do sáng kiến của mục sư Paul Wattson thuộc Giáo Hội Episcopal Hoa Kỳ. Vì tổ chức tuần cầu nguyện với mục đích xin cho các Giáo Hội khác trở về với Giáo Hội Công Giáo Roma, mục sư Wattson đã chọn ngày 18 tháng giêng lễ kính ngai tòa thánh Phêrô, và ngày 25 tháng giêng lễ thánh Phaolô trở lại. Mục sư Wattson là người đồng sáng lập Hiệp Hội Đền Tạ gồm các tu huynh và nữ tu đền tạ tại Graymont, New York. Năm 1909 sau khi Hiệp hội này gia nhập Giáo Hội công giáo, Đức Giáo Hoàng Pio X đã chính thức chúc lành cho Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất.

Các tuần cầu nguyện cho hiệp nhất sau đó được nhiều phong trào của các Giáo Hội Kitô nhấn mạnh, trong đó có phong trào Oxford Liên Minh Tin Lành Thế Giới với các sáng kiến cầu nguyện cho nữ giới. Vào năm 1935 viện phụ Paul Couturier bên Pháp đã đưa ra hướng đi mới cho tuần cầu nguyện, bắt đầu được phổ biến trong Giáo Hội công giáo và trong một số các cộng đoàn Anh giáo có thiện cảm với Đức Giáo Hoàng, Giám Mục Roma. Cha Couturier giữ các ngày 18 tới 25 tháng giêng, nhưng đổi tên thành ”Tuần cầu nguyện đại đồng cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô”, trong nghĩa hiệp nhất như ý Chúa muốn.

Sáu mươi năm sau, tức năm 1968, Ủy ban Đức Tin và Hiến Chế của Hội Đồng Đại Kết các các Giáo Hội Kitô và văn phòng Hội Đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô cùng soan thảo tài liệu cho tuần cử hành và gửi cho các Giáo Hội và giáo xứ trên toàn thế giới.

Năm nay cũng là địp kỷ niệm 100 năm hội nghị truyền giáo quốc tế lần đầu tiên nhóm tại Edimburg bên Êcốt. Hồi năm 1910 hội nghị đã quy tụ 1.200 đại biểu thuộc các Giáo Hội Tin Lành hầu hết đến từ Anh quốc và Hoa Kỳ. Tuy thiếu các đại biểu công giáo và chính thống nhưng sáng kiến này đã có tầm quan trọng rất lớn vì nó được coi như biến cố làm nảy sinh ra phong trào đại kết. Chính trong tinh thần ấy năm 1948 đã nảy sinh ra Hội Đồng Đại Kết các Giáo Hội Kitô có trụ sở tại Genève bên Thụy Sĩ và hiện nay quy tụ 349 Giáo Hội thuộc 110 quốc gia trên thế giới.

Trong các ngày 2-6 tháng 6 năm nay 2010 các Giáo Hội Kitô Ecốt sẽ tổ chức một Đại hội quốc tế truyền giáo khác để mừng kỷ niệm 100 năm Hội nghị truyền giáo quốc tế Edimburg. Lần này sẽ có sự tham dự của phái đoàn công giáo và của Hội Đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô cũng như phái đoàn đại biểu của Giáo Hội chính thống và Pentecostal. Ngoài việc suy tư về công tác loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay, còn có các đề tài như tinh thần tu đức truyền giáo, ý nghĩa của việc truyền giáo Kitô giữa các tôn giáo khác, tương quan giữa truyền giáo và quyền bính...

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Linh Mục Gino Battaglia, Giám đốc văn phòng đối thoại đại kết và liên tôn của Hội Đồng Giám Mục Italia, về tuần cầu nguyện này.

Hỏi: Thưa cha Bataglia, đâu là đặc thái chính của tuần cầu nguyện cho hiệp nhất năm 2010?
Đáp: Năm nay kỷ niệm 100 năm đại hội quốc tế truyền giáo triệu tập tại Edimburg bên Ecốt năm 1910. Đại hội này đã được coi như biến cố khai mào cho phong trào đại kết hiện đại. Vào tháng 6 năm 1910 đã có hơn 1.000 đại biểu của các Giáo Hội Tin Lành, Anh giáo và 1 đại biểu Chính Thống tham dự đại hội để cùng nhau suy tư về sự cần thiết phải đạt sự hiệp nhất giữa các tín hữu Kitô để có thể loan báo Tin Mừng cho thế giới một cách hữu hiệu hơn. Và sự đòi hỏi này ngày càng cấp thiết hơn nữa, đặc biệt sau một thế kỷ của phong trào đại kết.

Hỏi: Một trăm năm đã trôi qua, đã có thay đổi nào thưa cha?
Đáp: Ngày nay chúng ta ngày càng ý thức hơn về mối dây nối kết cuộc đối thoại giữa các Giáo Hội Kitô và việc rao truyền Tin Mừng. Như thế tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô năm nay được linh hứng từ mối dây nối kết ấy. Tính cách đáng tin cậy của việc thông truyền Tin Mừng thật ra bị hao mòn bởi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu.

Hỏi: Cha nhận thấy hiện tình cuộc đối thoại đại kết ra sao?
Đáp: Tôi đồng ý với Đức Hồng Y Walter Kasper, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, khi ngài nói rằng cuộc đối thoại đã đem lại các hoa trái phong phú, tuy nhiên cũng phải thực tế thừa nhận rằng chúng ta chưa đạt tới đích điểm của cuộc hành hương đại kết. Chúng ta còn đang ở trong giai đoạn nửa chừng, cả khi không thiếu các dấu hiệu khích lệ.

Hỏi: Chẳng hạn như dấu hiệu nào thưa cha?
Đáp: Có việc tìm kiếm sự hiệp nhất liên quan tới các đề tài đòi hỏi một sự hiện diện của các tín hữu Kitô trong xã hội. Chẳng hạn Tòa Thượng Phụ Costantinopoli rất gần gũi với các lập trường của Giáo Hội công giáo liên quan tới việc bảo vệ thụ tạo thiên nhiên và môi sinh; trong khi Tòa Thượng Phụ chính thống Matscơva thì nhấn mạnh trên hiện tượng xã hội Tây âu đánh mất đi căn tính Kitô của mình, vì thế cần phải có chứng tá chung xác tín hơn đối với các giá trị và các kiểu sống của tín hữu Kitô. Thế rồi với các Giáo Hội cổ xưa của Đông Phương đã có các tuyên ngôn chung giải tỏa các nghi ngờ lạc giáo. Trái lại các khác biệt với thế giới tin lành thì rõ ràng hơn, bởi vì có vài lập trường trong lãnh vực luân lý vẫn còn xa cách nhau.

Hỏi: Trên đây là tình hình chung của cuộc đối thoại đai kết. Riêng tại Italia này thì hiện tình ra sao thưa cha Battaglia?
Đáp: Hội nghị đại kết mà chúng tôi đã cử hành hồi tháng 5 năm 2009 tại Siracusa nam Italia, với sự tham dự của đại biểu mọi Giáo Hội Kitô hiện diện tại Italia và đại biểu của các Giáo Hội Tin Lành, có thể được coi như là một bản đồ nhỏ cho biết bầu khí đại kết hiện nay rất là thoải mái. Có một cuộc đối thoại của sự thật với các thời điểm và cung cách cũng như các trụ sở của nó, nhưng cũng có một cuộc đối thoại của tình bác ái và tình bạn chạy nhanh hơn. Chẳng hạn tại Siracusa chúng tôi đã kiểm thực sự tương đồng giữa các đề tài dấn thân trong xã hội, di cư, cuộc chiến đấu chống nghèo đói, công lý, các quyền con người, môi sinh, vai trò của nữ giới. Cần phải tiếp tục con đường này.

Hỏi: Vấn đề di cư có hệ lụy tới cuộc đối thoại đại kết như thế nào thưa cha?

Đáp: Đây là một cơ may rất lớn để gia tăng đại kết tình bạn. Do sự kiện nhiều anh chị em di cư là tín hữu chính thống Rumani hay Nga, vài giáo phận Italia đã sẵn sàng dành ra một nhà thờ để cho các anh chị em này có thể cử hành và tham dự các lễ nghi phụng vụ. Sự kiện này không thể không có các âm hưởng tích cực cả trên giới lãnh đạo các Giáo Hội Kitô.

Hỏi: Theo cha, đâu là cách cử hành tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô một cách hữu hiệu nhất?
Đáp: Xem ra điều tôi nói thừa thãi, nhưng thật ra cầu nguyện là cách thức hữu hiệu nhất để cử hành Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô. Cầu nguyện là điều đầu tiên phải làm. Rồi chắc chắn việc đồng hành với lời cầu nguyện bằng các cứ chỉ của tình bạn và sự gặp gỡ là điều hữu ích, nhưng luôn luôn phải bắt đầu bằng lời cầu nguyện.

(Avvenire 17-1-2010)
Linh Tiến Khải

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

Noi vong tay lon - Tai Tri Viet Nam !



Người Việt xa quê
Thứ Bảy, 27/09/2008, 04:24 (GMT+7)

Người nối nhịp cầu Thái - Việt
Anh Vy (bìa phải) dẫn khách quê hương vào Thái Lan -Ảnh: Quốc Việt
TT - Biết bốn ngôn ngữ, chịu khó học hỏi, anh Lê Quốc Vy ngẫu nhiên chuyển nghề làm “môi giới” cho các đoàn doanh nhân VN - Thái Lan.


Những ngày dạy tiếng Việt ở Đại học Ubon, Thái Lan, Vy đã soạn cả một giáo trình giống như tờ báo Việt ngữ luôn cập nhật các thông tin mới. Vy muốn những người Việt xa quê không chỉ biết tiếng mẹ đẻ mà còn hiểu được tình hình quê nhà…

“Nhà tôi là Tổ quốc”

Cha mẹ Lê Quốc Vy rời Huế qua Lào, rồi sang lập nghiệp tận tỉnh Ubonratchathani, Thái Lan từ những năm 1940 đầy biến động. Khi ấy anh còn nằm trên tay mẹ. Ký ức quê hương với anh chỉ là lời kể trong những đêm nhớ nhà của cha mẹ. Tuy nhiên, Vy may mắn định cư ở thành phố Ubon, nơi tập trung rất nhiều người Việt tuy xa quê vẫn trân trọng các giá trị văn hóa Việt. Vy kể cho tôi nghe thời thơ ấu của anh, các trường học ở Thái Lan hiếm lớp tiếng Việt. Những người lớn tuổi đầu tiên qua Thái Lan phải tự họp nhau, mở lớp dạy tiếng mẹ đẻ và văn hóa, lịch sử VN cho con cháu biết nguồn gốc của mình.

Lúc ấy, Vy nhớ xóm Việt kiều ở Ubon còn nghèo lắm nhưng vẫn cố lập ra nhiều đội biểu diễn múa hát, tuồng kịch từ những bài hát, truyện tích của quê hương để cùng nhau khuây khỏa bớt nỗi buồn xa quê. Người bạn trăm năm của anh cũng chính là một cô gái trong đội múa hát đó. “Mấy chục năm trước, lần đầu được nghe bài Biệt ly của Doãn Mẫn tôi khóc. Gần đây, được nghe bài Quê hương tôi cũng không cầm được nước mắt…”. - Vy tâm sự nỗi niềm của mình với quê hương.


Anh Vy trở về quê ở Huế -Ảnh: Quốc Việt
Tuy giờ đã là thầy giáo tiếng Việt ở Thái Lan, kiêm hướng dẫn, thông dịch viên cho các đoàn doanh nhân Thái - Việt đi mở thị trường, nhưng Vy vẫn không quên thời thơ ấu khó khăn trên đất người. Anh kể hầu hết người Việt qua lập nghiệp ở Ubon lúc đó đều không có nghề nghiệp chuyên môn. Đàn ông đi bốc vác hoặc làm ruộng. Phụ nữ may vá, dệt vải và làm thuê lặt vặt cho người bản địa. Nhiều gia đình Việt kiều mới qua nghèo đến mức không dựng nổi túp lều tá túc. Dân bản địa thương hại cho họ ở tạm dưới gầm nhà sàn, thường là chỗ để vật dụng nông nghiệp.

“Chính hoàn cảnh này cho chúng tôi nghị lực vươn lên!”. Vy tâm sự nhiều đêm cha anh vừa đốt đèn dầu dạy học vừa bảo ban con cái: “Mình tuy sống lưu vong nhưng không bao giờ được quên cội nguồn dân tộc VN, không bao giờ để cho người khác coi thường mình, để ngày mai vươn lên…”. Chính lòng tự trọng dân tộc đó đã giúp cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan dần dần vượt qua khó khăn. Nhiều bạn bè cùng lứa Vy học hành đỗ đạt làm doanh nghiệp, thầy giáo, kỹ sư. Còn Vy trở thành chuyên gia điện. Tuy nhiên, hình như máu hoạt động cộng đồng lại mạnh hơn trong anh. Vy tham gia dạy học tiếng Việt ở Đại học Ubon và viết cả giáo trình như bản tin cập nhật thông tin kinh tế - xã hội VN.

Vy hẹn gặp đoàn khách Việt ở Chămpasắk, Lào vào buổi tối, nhưng mới chiều anh đã đến đợi sẵn. Anh muốn chuẩn bị thật tốt để đón người quê hương sang. Đầu tuần này, vừa dẫn đoàn doanh nhân Thái Lan sang đầu tư ở Lạng Sơn, anh lại lên kế hoạch dẫn đoàn khác vào TP.HCM tìm thị trường. Những chuyến con thoi của người Việt xa quê này dần thành cầu nối cho nhiều doanh nhân hai nước.

Về sau, Vy được các công ty du lịch biết đến, mời làm hướng dẫn viên cho các đoàn du khách Thái - Việt. Ngoài khả năng sử dụng được bốn thứ tiếng Thái, Việt, Anh, Pháp, chính những chuyến đi cọ xát thực tế đã giúp Vy thêm kiến thức. Anh liên tục được các doanh nhân mời làm “người đưa đường” cho những chuyến qua lại hai nước, tìm kiếm cơ hội kinh doanh …

Nhịp cầu giao thương

Cách đây ba năm, tôi tình cờ quen Vy trong chuyến caravan xuyên hành lang đông - tây. Người Việt kiều hướng dẫn tiếng Thái trung niên này tuy trầm tính nhưng lại được nhiều người chú ý mỗi khi anh biểu lộ kiến thức sâu sắc của mình. Trên chuyến xe từ cửa khẩu Hữu Nghị Lào đến Ubonrachacthani, Thái Lan, anh đã làm tôi sửng sốt khi luận bàn sôi nổi âm nhạc quê nhà.

Anh biết tiểu sử, thuộc tên, thậm chí thuộc lời vanh vách rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ vang bóng một thời như Trịnh Công Sơn, Văn Cao, Doãn Mẫn, Dương Thiệu Tước, Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Và anh cũng không lạc hậu với dòng nhạc Việt đương đại… Anh nói mình có cảm xúc đặc biệt với nhạc Việt. Nếu không tìm mua được CD bên Thái, anh cũng nhờ người ở VN gửi qua. Nhà anh có cả một kho sưu tầm nhiều đĩa nhạc hay của VN.

Tuy nhiên, người đàn ông gốc Việt cách xa Tổ quốc này lại làm mọi người ngạc nhiên nhất là sự am hiểu tình hình kinh tế quê nhà. Anh hết bàn luận sôi nổi thị trường đất đai lúc nóng sốt lúc đóng băng ở TP.HCM, lại quay sang bàn chuyện chứng khoán lên xuống, giá cả nông sản của VN. Thậm chí, anh còn phân tích sâu sắc những cái được và chưa được trong quy hoạch các thành phố lớn. Anh so sánh với Thái Lan và nhận định cả hai mô hình đô thị đều mắc “bệnh” giống nhau là thiếu sự liên kết. Một khu đô thị đẹp giữa đống lộn xộn thì chưa gọi là đẹp được.

Thích việc áp lực cao

Gần đây, Vy đi lại như con thoi giữa Thái Lan và VN. Khi thì anh dẫn doanh nhân Thái đi tìm hiểu thị trường Việt. Lần khác anh dẫn doanh nhân Việt đi mua máy móc sản xuất ở Thái Lan. Các doanh nhân quý Vy không chỉ bởi khả năng thông dịch nhiều thứ tiếng, mà còn cả ở sự hiểu biết của anh. Rất nhiều lần anh đã ngẫu nhiên trở thành một chuyên gia tư vấn không chuyên cho họ.

Một buổi chiều, tôi đi công tác ở Hà Nội, lại tình cờ nhận được điện thoại của Vy. Lần này anh dẫn đoàn doanh nghiệp Thái đi tìm hiểu thị trường để đầu tư tận tỉnh biên giới Lạng Sơn. Tuy hành trình đường dài Vy vẫn hừng hực sôi nổi của người mê đi, mê tìm hiểu và thích làm việc có áp lực cao. Anh kể dẫn đoàn doanh nhân Thái từ Bangkok sang TP.HCM, rồi ra Hà Nội làm việc mấy ngày, lại tiếp tục đi Lạng Sơn. Ròng rã đi lại, làm nhịp cầu giao thương cho gần 20 doanh nhân Thái, anh sút cân nhiều vì hầu như không bao giờ được ngủ trước 1 giờ sáng và dậy trễ sau 5 giờ.

Trong giờ nghỉ ngơi hiếm hoi ở quê hương, Vy tâm sự với tôi rất nhiều về gia đình mình. Con cái anh đứa mới vào đại học, đứa chuẩn bị ra trường. Anh đi suốt không có thời gian kèm cặp chúng. Những lúc được bên nhau, anh thường nhắc lại ý nguyện của cha xưa để bảo ban con cái: “Dù lúc nào, ở đâu, các con cũng phải nhớ tổ tiên mình là người VN, để có ngày về quê hương”.

Ly cà phê vừa cạn, Vy lại lật đật chia tay tôi để bay về Thái Lan. Anh nói ngày mốt sẽ lại có mặt ở Huế…

QUỐC VIỆT

Tai Tri Viet Nam trong Cong Dong The Gioi ngay nay !


Du học sinh
Thứ Hai, 31/03/2008, 04:07 (GMT+7)

Thủ khoa người Việt trên xứ sở hoa anh đào
Ngọc Châu (trái) cùng chị gái Bảo Trân với bằng khen và huy chương danh dự


TT - Học viện Công nghệ Kyoto đã tổ chức buổi lễ tốt nghiệp và trao bằng cho hơn 1.000 tân tiến sĩ, thạc sĩ và cử nhân. Trong buổi lễ long trọng này, cộng đồng sinh viên Việt Nam tại Kyoto vinh dự góp mặt hai tiến sĩ: Đặng Thị Phương Thảo và Hứa Thùy Trang, cùng một đại diện thủ khoa xuất sắc, cử nhân Huỳnh Ngọc Châu.

Ngọc Châu đã đại diện các tân cử nhân ngành hóa nhận huy chương danh dự và bằng khen đặc biệt của trường.

Học viện Công nghệ Kyoto là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu quốc tế tầm cỡ, uy tín trong các lĩnh vực đặc biệt như hóa học, y sinh và dệt may. Trong buổi lễ, Ngọc Châu đã được tôn vinh với tư cách là sinh viên quốc tế đầu tiên trong hơn 100 năm lịch sử của trường, đạt danh hiệu thủ khoa toàn năng.

Ngọc Châu từng đạt thủ khoa tốt nghiệp trung học phổ thông của TP.HCM và trúng tuyển vào Đại học Quốc gia với số điểm loại ưu năm 2001 trước khi lên đường du học đến với xứ sở Phù Tang. Ngọc Châu đã được Học viện Công nghệ Kyoto chọn và đề cử học bổng của Chính phủ Nhật sau khi vượt qua kỳ thi sát hạch gắt gao của trường.

Trong suốt khóa học, Ngọc Châu luôn đạt được những kết quả xuất sắc. Đề tài nghiên cứu của Ngọc Châu về "chất hoạt động bề mặt" báo cáo trong hội nghị khoa học Việt - Nhật tại Đại học Cần Thơ vào tháng hai vừa qua đã được các nhà nghiên cứu hàng đầu Việt Nam và Nhật Bản đánh giá cao. Với những thành tích xuất sắc, Học viện Công nghệ Kyoto đã quyết định tiếp tục cấp học bổng toàn phần cho Ngọc Châu hoàn tất chương trình thạc sĩ và tiến sĩ tại trường.

Với vốn tiếng Nhật, tiếng Anh lưu loát và nhiệt huyết tuổi trẻ, Ngọc Châu tham gia rất nhiều hoạt động giao lưu văn hóa và giới thiệu truyền thống Việt Nam đến với người dân Nhật Bản. Hiện Ngọc Châu đang đảm nhiệm công việc của một đại sứ danh dự hữu hảo của toàn phủ Kyoto, nhằm tích cực nâng cao sự giao lưu văn hóa - đối ngoại giữa hai nước Việt - Nhật. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào tháng 11-2007, Ngọc Châu đã vinh dự được chọn làm thông dịch viên và hướng dẫn viên cho Chủ tịch cùng phái đoàn Chính phủ.

Cùng các trí thức trẻ đang học tập và nghiên cứu ở nước ngoài, Ngọc Châu muốn cống hiến khả năng của mình, góp phần cho đất mẹ Việt Nam ngày càng phát triển giàu, đẹp.

NGUYỄN NGỌC DŨNG (Từ Kyoto, Nhật Bản)