Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Linh dao Giesu Kito !

Đạt được tình bạn với Chúa Giêsu là sống hạnh phúc!
Chủ nhật, 10 Tháng 10 2010 02:19 .

Hãy hiểu biết Kinh Thánh, yêu mến Phụng Vụ và sống các khía cạnh đức tin một cách sâu đậm hơn để đạt được tình bạn với Chúa Giêsu là sống hạnh phúc.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khích lệ 30.000 tín hữu và du khách năm châu tham dự buổi tiếp tại quảng trường Thánh Phêrô sáng thứ tư 6-10-2010.

Trong bài huấn dụ, Đức Thánh Cha đã giới thiệu gương mặt thánh nữ Gertrude Cả, nữ tu người Đức, sống vào hậu bán thế kỷ XIII tại tu viện biển đức Helfta, nơi đã nảy sinh ra vài kiệt tác của nền văn chương tôn giáo nữ giới latinh-đức.

Đức Thánh Cha giới thiệu gương mặt của thánh nữ Gertrude Cả như sau:

“Thuộc thế giới ấy, có Gertrude, một trong những nhà thần bí nổi tiếng nhất, phụ nữ duy nhất của nước Đức được gọi là ”Cả”, vì tầm cỡ văn hóa và tin mừng trong cuộc đời của chị. Với cuộc sống và tư tưởng của mình chị đã ghi khắc một cách đặc biệt dấu ấn trên nền tu đức kitô. Đó là môt phụ nữ đặc biệt, có các tài khéo tự nhiên và các ơn thánh ngoại thường, một đức khiêm nhường thẳm sâu và lòng nhiệt thành nồng cháy đối với ơn cứu rỗi của tha nhân, kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa trong sự chiêm niệm và sẵn sàng cứu giúp những người thiếu thốn.

Thánh nữ Gertrude Cả sinh ngày mùng 6 tháng giêng năm 1256, đúng ngày lễ Hiển Linh, nhưng không ai biết gì về cha mẹ và nơi sinh của chị. Chỉ biết rằng khi lên 5 tuổi, Gertrude được gửi vào học trường nội trú do các nữ tu biển đức điều hành, và được giao cho thánh Mathilde thành Hackeborn săn sóc. Gertrude sống các chặng ý nghĩa nhất đời mình tại đây.

Được thánh Mathilde dậy dỗ giáo dục, trong tương quan với nữ tu Mathilde thành Magdeburg và dưới sự chăm sóc hiền mầu êm dịu và đòi hỏi của viện mẫu Gertrude, thánh nữ kín múc được từ ba phụ nữ ấy các kho tàng kinh nghiệm và khôn ngoan. Chị diễn tả sự phong phú tu đức không chỉ của thế giới đan tu, mà nhất là của thế giới kinh thánh, phụng vụ, giáo phụ và biển đức nữa, với dấu ấn rất cá biệt và sự thông truyền hữu hiệu.

Gertrude đã là một nữ sinh ngoại thường, ưa thích hiểu biết, kiên trì và hăng say học hành, ham mê văn chương, âm nhạc, thánh ca, nghệ thuật thủ công, nên đạt các thành quả vượt sự chờ mong.

Chị có cá tính mạnh mẽ, cương quyết, và dễ bị khích động. Chị thường cho mình là thiếu sót và thừa nhận các khuyết điểm và khiêm tốn xin lỗi. Chị thường khiêm tốn xin lời khuyên và lời cầu nguyện cho ơn hoán cải của mình. Có những khuyết điểm sẽ theo chị cho tới chết, khiến cho nhiều người ngạc nhiên tự hỏi làm sao Thiên Chúa lại yêu thương chị một cách đặc biệt như vậy.”

Tiếp tục bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:

“Từ chỗ là nữ sinh, Gertrude thánh hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa trong đời sống đan tu, và trong 20 năm trời, đã không xảy ra chuyện gì đặc biệt. Chị tiếp tục trau dồi văn hóa trong mọi chiều kích khác nhau. Nhưng vào Mùa Vọng năm 1280, chị bắt đầu cảm thấy chán ghét mọi thứ đó, và nhận ra sự phù vân của chúng.

Ngày 27 tháng giêng năm 1281, vào giờ Kinh Tối, Chúa soi sáng các tối tăm của chị. Với sự dịu ngọt và êm ái, Chúa trấn an nỗi âu lo của chị, và ban ơn giúp chị đánh đổ ngọn tháp phù vân và tò mò, mà chị đã tìm cách xây cao với lòng kiêu căng. Chị thị kiến thấy một thiếu niên cầm tay dẫn chị vượt qua các gai góc chèn ép tâm hồn, và chị nhận ra đó là chính Chúa Giêsu, Đấng đã đổ máu trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta. Từ đó trở đi, đời sống kết hiệp với Chúa của chị được củng cố, đặc biệt trong các thời gian phụng vụ ý nghĩa nhất như: Mùa Vọng Giáng Sinh, Mùa Chay Phục Sinh, các lễ của Đức Mẹ, cũng như trong những lúc đau yếu không tham dự giờ kinh chung với cộng đoàn được.

Tiểu sử của chị ghi lại hai hướng đi của cuộc hoán cải ấy. Thứ nhất là trong việc học hành: từ các môn nhân văn đời hướng sang các môn thần học. Thứ hai là trong việc tuân giữ luật đan tu: từ cuộc sống lơ là sang cuộc sống cầu nguyện sâu đậm, thần bí với nhiệt tình truyền giáo ngoại thường.

Giờ đây, chị được dẫn lên núi của sự chiêm niệm, nơi chị từ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới. Từ thầy văn phạm, chị trở thành nữ thần học gia. Chị tìm đọc tất cả các sách thánh có thể có và khiến cho con tim mình tràn đầy các câu kinh thánh êm dịu nhất. Và chị luôn luôn có các lời linh hứng cho những ai đến hỏi ý kiến của chị, hay để phản bác bất cứ ý kiến sai lạc nào và bịt miệng các người chống đối.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh ý hướng tông đồ của thánh nữ Gertude như sau:

“Chị Gertrude biến tất cả những điều đó thành việc tông đồ: chị viết và phổ biến chân lý đức tin với sự rõ ràng và đơn sơ, duyên dáng và có sức thuyết phục. Chị trung thành phục vụ Giáo Hội đến độ sinh ích lợi cho cả các thần học gia và những người đạo đức và được họ chấp nhận. Rất tiếc là từ các sinh hoạt phong phú ấy của chị, người ta đã chỉ giữ lại được tác phẩm ”Người loan báo tình yêu Thiên Chúa” hay các ”Mạc khải” và các ”Cuộc tĩnh tâm”, là hạt ngọc của nền văn chương thần bí thiêng liêng. Lý do cũng là vì đan viện Helfta đã bị tàn phá.

Các lời nói và gương sống của chị khơi dây nơi người khác lòng sốt mến sâu xa. Ngoài đời cầu nguyện và hãm mình, chị còn có lòng đạo đức và hoàn toàn tín thác nơi Thiên, khiến cho ai gặp chị đều nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã cho chị hiểu rằng Ngài kêu gọi chị, chính là để chị trở thành dụng cụ ơn thánh của Ngài. Tuy nhiên, chị luôn ý thức được sự bất xứng và nghèo nàn của mính và hoàn toàn gắn bó với ý muốn của Thiên Chúa.

Có hai ơn mà chị yêu mến nhất: đó là các dấu vết cuộc khổ nạn mà Chúa in sâu trong tâm hồn chị, như đồ trang sức con tim; và vết thương tình yêu mà Ngài đã khắc ghi trong chị. Đó là các ơn trọng đại, mà nếu có phải sống xa Chúa hằng nghìn năm không nhận được sự ủi an trong ngoài nào, chỉ nhớ tới các ơn ấy cũng đủ để an ủi, soi sáng và làm cho chị tràn ngập lòng biết ơn Thiên Chúa.”

Thánh nữ Gertrude Cả qua đời ngày 17 tháng 11 năm 1301 hay 1302, khi mới được 46 tuổi.

Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau:

“Cuộc đời của thánh nữ Gertrude Cả là một trường học của đời sống kitô, của con đường ngay thẳng. Nó cho chúng ta thấy rằng trung tâm cuộc đời hạnh phúc, của một cuộc sống đích thật, là tình bạn với Chúa Giêsu. Tình bạn đó, chúng ta học được trong lòng yêu mến Kinh Thánh, yêu mến phụng vụ, trong đức tin sâu đậm và trong tình yêu đối với Mẹ Maria, để ngày càng hiểu biết chính Thiên Chúa một cách đích thực hơn. Đó là hạnh phúc thật và là đích điểm cuộc sống của chúng ta.”

Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm khác nhau, như nhóm các Linh Mục sinh viên trường thánh Phaolô, trong đó có nhiều linh mục Việt Nam, cũng như các chủng sịnh dòng các Tôi tớ Công trình Bác Ái của Cha Guanella và các thành viên tổng tu nghị dòng Thừa Sai Tận Hiến Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết mùng 7 tháng 10 là lễ Đức Mẹ Mân Côi. Ngài mời gọi mọi người yêu mến lần hạt Mân Côi mỗi ngày. Đó là lời kinh rất thân thương của truyền thống kitô, đọc kinh Mân Côi để suy ngắm các mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Cứu Thế và được nhiều ơn lành hồn xác.

Sau cùng, Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

(Đài Vatican - 06/10/2010)

Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Nghe thuat song


CHỈ SỐ TỬ TẾ







Chỉ số tử tế (Kindness Quotient) rất cần. Cũng như chất lượng của tâm hồn, sự tử tế là một kỹ năng. Nó đào sâu thêm khi chúng ta biết chú ý tới chính mình và người khác bằng sự nhận thức. Khi chúng ta ra khỏi vùng thoải mái và nói chuyện với nhau, lắng nghe nhau, và quan tâm nhau theo cách thức khác thì sự tử tế sẽ phát triển. Kết quả của sự tử tế hơn sẽ được tiết lộ trong tâm trí chúng ta, trong cuộc sống và trong cộng đồng. Đây là 10 cách làm tăng chỉ số tử tế:
1. Tử tế là sức mạnh. Không thể hiểu sự tử tế là đức tính thứ yếu, điều mà chúng ta đạt tới như phương kế cuối cùng. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào sức mạnh của sự tử tế - cách nhắc nhớ chúng ta về sự phong phú nội tâm và giúp chúng ta cảm thấy liên kết với người khác chứ không tách rời - chúng ta có thể đánh giá cao về sự tử tế như chính sức mạnh của nó. Sự tử tế không là khờ dại hoặc nhẹ dạ, nhưng là khôn ngoan và can đảm.
2. Tìm điều tốt nơi mình. Chúng ta thường quá chú ý hoặc ám ảnh về lỗi lầm của mình, chúng ta không dám “ăn to, nói lớn” vì chúng ta cảm ngượng ngùng hoặc quá nhút nhát. Nhìn vào những điều tốt nơi mình không phải là từ chối khó khăn hoặc vấn đề gì, mà là cách mở rộng tầm nhìn để chân thật hơn và không quá khắt khe với chính mình.
3. Chia sẻ. Nếu chúng ta nhìn sâu vào bất kỳ cách cư xử nào chúng ta sẽ thấy muốn cảm thấy điều gì đó vĩ đại hơn chính con người hữu hạn của mình - cả về tinh thần và thể lý. Đây là sự thôi thúc đạt đến hạnh phúc, nhưng nó thường bị bóp méo bởi sự khinh suất, không biết thực sự hạnh phúc có được tìm thấy hay không, và do đó chúng ta làm tổn hại nhiều thứ. Chúng ta hãy chia sẻ niềm khao khát được hạnh phúc, muốn thay đổi, sợ mất mát và sợ yếu đuối. Hãy nhớ rằng những gì chúng ta chia sẻ sẽ gợi hứng cho chúng ta tìm đến sự tử tế.
4. Biết ơn. Còn hơn nói lời cảm ơn khi chúng ta đưa tay cứu giúp tha nhân (đen và bóng), khi đó chúng ta giữ họ trong tim mình. Đôi khi một hành động nhỏ tử tế với người khác cũng đủ tạo sự khác biệt quan trọng. Đó là động thái tôn trọng người khác, và cũng là để nâng tâm hồn mình lên cao, nhắc nhớ chúng ta về sức mạnh của sự tử tế.
5. Rộng lượng. Cho đi thì quý hơn nhận lãnh, dù tinh thần hay vật chất, ít hay nhiều. Cho cái gì người ta đang cần thì quý hơn mọi thứ khác. Một miếng bánh cho người đói. Một lời động viên cho người thất vọng. Một ánh mắt cảm thông cho tội nhân. Của cho không bằng cách cho, nhưng chúng ta thường cho người khác cái mà mình muốn phế thải. CHO cũng không dễ như mình tưởng!
6. Suy nghĩ về sự tử tế. Mỗi ngày chúng ta dành thời gian để nhớ đến người khác và cầu nguyện cho họ. Một lúc nào đó trong ngày, hãy nhớ đến những người đã giúp đỡ mình, những người may mắn, những người cô đơn, những người sầu khổ, những người bệnh tật… Tuỳ theo hoàn cảnh sống của mình, chúng ta có thể hành động trong giới hạn cho phép. Mỗi ngày dành ra 10 phút suy tư về sự tử tế, bạn sẽ thấy mình đang thay đổi…
7. Lắng nghe người khác. Chúng ta thường nói về những gì mình quan tâm, nghĩ về những gì mình thích, hoặc những gì người khác đánh giá về mình. Chúng ta cũng thường chú ý những người “hợp” và theo phe mình, nhưng lại chỉ trích những ai không theo phe mình. Hãy quên đi những điều đó cho khỏi bận lòng. Đó là một dạng tử tế và bạn sẽ cảm thấy nhẹ lòng.
8. Thân thiện với mọi người. Trong khi nói chuyện với một nhóm người, có những người quá nhút nhát, không dám nói và không dám hỏi. Trong bữa tiệc có nhiều người không biết nhau. Cảm giác không được ai quan tâm hoặc lưu ý là cảm giác “đáng sợ”. Mình sao, người vậy. Hãy tỏ ra cởi mở và thân thiện với những người cảm thấy lẻ loi. Đó là sự hoà đồng cần thiết.
9. Kiềm chế. Nếu cảm thấy ghét ai, không muốn gặp hoặc nói chuyện với họ, hãy cố gắng kiềm chế để vẫn có thể tỏ thái độ nhã nhặn hoặc mỉm cười với họ. Hãy hít sâu để lấy bình tĩnh. Sự thù hận và ghen ghét bất lợi cho tinh thần, thể lý, xã hội, tôn giáo,… Thù hận thì dễ, nhưng tha thứ và yêu thương rất khó, nhất là khi người đó “dị ứng” với mình. Nhưng ai làm được vậy mới đáng nể trọng. Tha thứ không là thua cuộc.
10. Cảm thông. Luôn luôn hữu ích nếu biết đặt mình vào vị trí của người khác. Tục ngữ có câu: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, nghĩa là đừng xét đoán ai theo bề ngoài. Dù bạn đang rất muốn thay đổi người khác, sự cảm thông và hiểu hòan cảnh của họ sẽ khiến bạn thêm mạnh mẽ. Dù sao thì sự tử tế cũng sẽ mở rộng đường phản ứng của chúng ta đối với vấn đề nào đó, giúp chúng ta nhạy bén hơn và sáng tạo hơn khi chúng ta muốn loại trừ đau khổ, và tìm về Chân-Thiện-Mỹ.

--------------------------------------------------------------------------------

TRẦM THIÊN THU
Chuyển ngữ từ Beliefnet.com

Song khoe song vui !


NHỮNG LỜI KHUYÊN TÍCH CỰC







1. Uống nhiều nước. (Drink plenty of water)
2. Ăn sáng giống như vua, ăn trưa giống như ông hoàng và ăn tối giống như kẻ ăn xin. (Eat breakfast like a king, lunch like a prince and dinner like a beggar)
3. Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo thành cây. (Eat more foods that grow on trees and plants and eat less food that is manufactured in plants)
4. Sống với 3N: Năng lực, Nhiệt thành và Nhân ái (Live with the 3 E's -- Energy, Enthusiasm and Empathy).
5. Tìm ra thì giờ mà cầu nguyện. (Make time to pray)
6. Chơi trò chơi nhiều hơn. (Play more games)
7. Đọc nhiều sách hơn năm cũ. (Read more books than you did in last year)
8. Ngồi yên lặng ít nhất 10 phút mỗi ngày. (Sit in silence for at least 10 minutes each day.)
9. Ngủ 7 giờ. (Sleep for 7 hours).
10. Đi bộ từ 10-30 phút mỗi ngày. Và mỉm cười trong khi bước đi. Take a 10-30 minutes walk daily. And while you walk, smile).
11. Đừng so sánh cuộc đời của bạn với cuộc đời của những người khác. Bạn không biết cuộc hành trình của họ như thế nào đâu. (Don't compare your life to others'. You have no idea what their journey is all about).
12. Đừng có những tư tưởng tiêu cực hoặc có những thứ mà bạn không thể làm chủ. Thay vào đó, hãy đầu tư năng lực của bạn vào khoảnh khắc hiện tại tích cực.
(Don't have negative thoughts or things you cannot control. Instead invest your energy in the positive present moment).
13. Đừng làm quá mức. Giữ giới hạn của bạn. (Don't over do. Keep your limits).
14. Đừng quá coi trọng bản thân bạn. Không ai làm như vậy ‎đâu. (Don't take yourself so seriously. No one else does).
15. Đừng phí năng lực quý báu vào chuyện ngồi lê đôi mách. (Don't waste your precious energy on gossip).
16. Hãy mơ nhiều hơn khi bạn còn đang thức. (Dream more while you are awake).
17. Ghen tỵ là phí thì giờ. Bạn đã có tất cả những gì bạn cần rồi.. (Envy is a waste of time. You already have all you need).
18. Hãy quên đi những chuyện quá khứ. Đừng nhắc cho bạn của bạn nhớ lại những lỗi lầm của họ trong quá khứ. Việc này sẽ làm hỏng hạnh phúc hiện tại của bạn.
(Forget issues of the past. Don't remind your partner with His/her mistakes of the past. That will ruin your present happiness)
19. Cuộc sống quá ngắn để mà phí thì giờ vào việc ghét người nào. Đừng ghét những người khác.. (Life is too short to waste time hating anyone. Don't hate others)
20. Hãy làm hòa với quá khứ của bạn để nó không làm hỏng hiện tại. (Make peace with your past so it won't spoil the present).
21. Không ai lãnh trách nhiệm về hạnh phúc của bạn ngoài bạn. (No one is in charge of your happiness except you).
22. Hãy nhận thức rằng cuộc đời là một trường học và bạn ở đây là để học. Các vấn đề chỉ là một phần của bản l‎ý lịch. Nó xuất hiện rồi phai mờ đi giống như lớp đại số, nhưng các bài học bạn học được thì sẽ kéo dài suốt đời.
(Realize that life is a school and you are here to learn. Problems are simply part of the curriculum that appear and fade away like algebra class but the lessons you learn will last a lifetime).
23. Mỉm cười và cười nhiều hơn. (Smile and laugh more).
24.Bạn không buộc phải thắng mọi đểm đâu. Hãy đồng ‎ ý với việc không đồng ý. (You don't have to win every argument. Agree to disagree).
25. Hãy gọi cho gia đình bạn thường xuyên. (Call your family often).
26. Mỗi ngày, hãy mang lại điều gì tốt cho người khác. (Each day give something good to others).
27. Hãy tha thứ cho mọi người về mọi sự. (Forgive everyone for everything).
28. Hãy dành thì giờ cho những người ngoài 70 và dưới 6 tuổi. (Spend time w/ people over the age of 70 & under the age of 6.
29. Hãy cố gắng làm cho ít ra ba người mỉm cười mỗi ngày. (Try to make at least three people smile each day).
30. Điều người khác nghĩ về bạn không phải là việc của bạn. (What other people think of you is none of your business).
31. Việc làm của bạn sẽ không săn sóc bạn khi bạn đau ốm đâu. Bạn bè mới làm việc ấy. Hãy liên lạc với nhau luôn. (Your job won't take care of you when you are sick. Your friends will. Stay in touch).
32. Hãy làm chuyện đúng! (Do the right thing!)
33. Loại bỏ bất cứ thứ gì không ích lợi, không đẹp hoặc không vui. (Get rid of anything that isn't useful, beautiful or joyful).
34. Chúa chữa lành mọi sự…(GOD heals everything...)
35. Cho dù một hoàn cảnh có tốt hay xấu, nó sẽ thay đổi. (However good or bad a situation is, it will change.)
36. Mặc cho bạn có cảm thấy thế nào, hãy đừng đậy, thay y phục và ra mắt. (No matter how you feel, get up, dress up and show up).
37. Điều tốt nhất vẫn còn đang đến. (The best is yet to come)
38. Khi bạn còn sống mà thức dậy buổi sáng, hãy cám ơn Chúa về điều ấy. (When you awake alive in the morning, thank GOD for it)
39. Thâm tâm bạn luôn luôn hạnh phúc. Thế thì, hãy sống hạnh phúc đi. (Your Inner most is always happy. So, be happy)
Điều cuối cùng nhưng không phải là nhỏ nhất: (Last but not the least)
40. Xin vui lòng chuyển bản văn này đến tất cả những người mà bạn đang quan tâm. (Please Forward this to everyone you care about).

--------------------------------------------------------------------------------

Thu tinh cua Thien Chua chung ta !


PHÚT SUY TƯ

THƯ TÌNH CỦA CHÚA


Con yêu dấu,

Con có thể chưa biết Ta, nhưng Ta biết rất rõ về con (Tv 139,1).
Ta đã tạo dựng con theo hình ảnh của Ta (St 1,27).
Trước khi cho con thành hình trong bụng mẹ, Ta đã biết con; trước khi con lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá con (Gr 1,5).
Ta đã nâng con từ trong lòng mẹ, đã hứng các con từ lúc chưa chào đời (Is 46,3b).
Tạng phủ con chính Ta cấu tạo, đã dệt hình hài con trong dạ mẫu thân con (Tv 139,13).
Ngày con mới là bào thai, mắt Ta đã thấy. Mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách của Ta, trước khi ngày đầu của đời của con khởi sự (Tv139,16). Con được dựng nên cách lạ lùng, công trình Ta kỳ diệu biết bao (Tv 139,14).
Ta biết cả khi con đứng, con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ta đều thấu suốt. Con đi, con nghỉ, Ta đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, Ta đều quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì Ta đã am tường hết (Tv 139,2-4).
Ngay đến tóc trên đầu của con, Ta cũng đã đếm cả rồi. (Mt 10,30).
Con là con của Ta, Ta đã sinh ra con (Tv 2,7).
Con thuộc giòng giống của Ta (Cv 17,28).
Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ta (Tv 71,6) .
Ta làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Ta.
Ta đã tiền định cho con làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Ta (Ep 1,11).
Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo con.
Con được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối (Is 66,12). Chính ở trong Ta mà con sống, con hoạt động và hiện hữu.
Ta đối xử với con như người mẹ nựng trẻ thơ, Ta nâng con lên áp vào má; Ta cúi xuống gần con mà đút cho con ăn (Hs 11,4).
Ta đã tập đi cho con, đã đỡ cánh tay con, nhưng con không hiểu là Ta chữa lành con (Hs 11,3).
Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù người mẹ có quên con mình đi nữa, thì Ta, Ta cũng sẽ chẳng quên con bao giờ (Is 49,15).
Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi con như vậy (Is 66,13).
Con có phải là đứa con Ta yêu dấu, một đứa con Ta rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới con, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương con, thương con thật nhiều (Gr 31,20). Vì con, nước mắt Ta chan hòa (Is 16,9).
Hãy xem, Ta đã ghi khắc con trong lòng bàn tay Ta (Is 49,16).
Cho dù trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác làm chi cũng không có gì tách được con ra khỏi tình yêu của Ta (Rm 8,39).
Cho đến khi con già nua tuổi tác, trước sau gì Ta vẫn là Ta; cho đến khi con da mồi tóc bạc, Ta vẫn còn gánh vác con. Như xưa nay Ta vẫn từng đối xử, Ta sẽ nâng niu, gánh vác con, và ban ơn cứu thoát (Is 46,4).
Hãy xem Ta yêu con dường nào, Ta yêu con đến nỗi cho con được là con của Ta (1Ga 3,1). Nếu người cha trần thế vốn là kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những điều tốt, huống gì Ta là Cha ở trên trời lại không ban cho con những điều tốt lành sao? (Mt 7,11).
Ta yêu con đến nỗi đã ban Con Một của Ta, để con tin vào Con của Ta thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Ga 3,16). Ta đã yêu thương con như Ta đã yêu thương Con Một của Ta (Ga 17,23).
Mọi ơn lành, và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do Ta từ trên tuôn xuống (Gc 1,17).
Ta cho con biết, đừng lo cho mạng sống mình, lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể, lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? (Mt 6,25). Cha của con trên trời biết rõ con cần tất cả những thứ đó (Mt 6,32).
Kế hoạch Ta định làm cho con là kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để con có một tương lai và niềm hy vọng (Gr 29,11).
Ta đã yêu con bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho con lòng xót thương. (Gr 31,3b).
Ta sẽ vui mừng hoan hỷ vì con, và sẽ lấy tình thương của Ta mà đổi mới con. Ta sẽ nhảy múa tưng bừng vì con (Xp 3,17).
Ta không ngừng thi ân cho con, cũng như ban cho con lòng kính sợ Ta không để con xa rời Ta nữa (Gr 32,40).
Ta lấy làm vui mà thi ân giáng phúc cho con và đem hết lòng tác tạo con (Gr 32,41).
Ta có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi con, mà làm hơn gấp ngàn lần điều con có thể cầu xin hay nghĩ tới (Ep 3,20).
Ta sẽ tỏ cho con biết những điều lớn lao và bí ẩn mà con không biết (Gr 33,3). Con sẽ thấy Ta nếu con hết lòng hết dạ kiếm tìm Ta (Đnl 4,29).
Đừng sợ hãi, hỡi con, có Ta ở với con (Is 41,10). Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Ta, Thiên Chúa của con, sẽ ở với con bất cứ nơi nào con đi tới (Gs 1,9). Đừng sợ, dù con có bị chống đối, có gặp chông gai tư bề, hay ngồi trên bò cạp (Ed 2,6). Đừng sợ các nỗi đau khổ con sắp phải chịu. Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho con triều thiên sự sống (Kh 2,10). Đừng sợ, con còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ (Lc 12,7).
Trước mắt Ta, con thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương (Is 43,4).
Có dân tộc vĩ đại nào đến nỗi được thần minh ở gần, như Ta, Thiên Chúa của con, ở gần con, mỗi khi con kêu cầu Ta (Đnl 4,7).
Ta là Đấng canh giữ con, chính Ta là Đấng vẫn chở che, Ta luôn luôn ở gần kề con (Tv 121,5).
Ta ấp ủ, dưỡng dục, luôn giữ gìn con, chẳng khác nào con ngươi trong mắt Ta, tựa như chim bằng trên tổ lượn quanh, giục bầy con bay nhảy, xoè cánh ra đỡ lấy rồi cõng con trên mình (Đnl 32,10-11).
Ta ở gần khi tấm lòng con tan vỡ, cứu con khi tâm thần thất vọng ê chề (Tv 34,19). Như mục tử, Ta chăn giữ đoàn chiên của Ta, tập trung cả đoàn chiên dưới cánh tay Ta. Còn chiên con, Ta ấp ủ vào lòng (Is 40,11).
Ta sẽ lau sạch nước mắt con. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa (Kh 21,3-4).
Đừng trì hoãn, hãy trở về với Ta; đừng lần nữa hết ngày này qua ngày khác (Hc 5,7). Trên trời ai nấy sẽ vui mừng vì nếu con tội lỗi nhưng ăn năn sám hối (Lc 15,7). Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng.
Hãy trở về cùng Ta là Thiên Chúa của con, bởi vì Ta từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương. (Ge 2,13).
Nếu con biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi con.
Ta sẽ ghé mắt nhìn và lắng tai nghe lời cầu nguyện con dâng lên (2Sb 7,14).
Ta không cứ tội con mà xét xử, không trả báo con xứng với lỗi lầm. Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình yêu Ta thương kẻ thờ Ta cũng trổi cao. Như đông tây cách xa nhau ngàn dặm, tội con đã phạm, Ta cũng ném thật xa Ta. Như người cha chạnh lòng thương con cái, Ta cũng chạnh lòng thương kẻ kính thờ Ta (Tv 103,10-13).
Con chỉ có một Cha là Cha trên trời (Mt 23,9).
Ta là Cha của con, và con là con trai, con gái của Ta (2Cr 6,18).
Con, con là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Ta (1Pr 2,9).
Ta là Thiên Chúa phán, "Ta là Anpha và Ômêga, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng (Kh 22,13).
Ta thương con, thương con thật nhiều, (Gr 31,20).
[sưu tầm]

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010

Guong Thanh Nhan - Thanh Augustino

Thánh Augustinô: Sự cứu rỗi duy chỉ đến từ Thiên Chúa
(Thánh Augustinô: Confessio – Tự thú)

Lm Nguyễn Hữu Thy

Sau một thời gian dài tinh thần bị lạc lối trong đêm tối vô tri lầm lẫn và phải tự lần mò tìm ra lối thoát tiến về ánh sáng chân lý, vào năm 386 triết và thần học gia thời danh Augustinô – sinh năm 354 tại Bắc Phi Châu – đã trở lại Kitô giáo. Từ một môi trường sống bình dị ở tỉnh lẻ Hippo, giáo sư khoa tu từ học – cũng được gọi là khoa hùng biện - Augustinô đã trở thành một ngôi sao trí thức sáng chói tại kinh thành hoa lệ Milanô thuộc miền Bắc Ý, mà từ lâu đã được coi như thủ đô mới của Đế quốc Roma.

Thánh Augustinô thành Hippô: Nhà triết và thần học gia thời danh

Trong gần mười năm trời, Augustinô là đồ đệ của thuyết Nhị Nguyên, (Manichäismus), một phong trào cho rằng một thực tại luôn chứa đựng hai nguyên lý mâu thuẩn nhau; nói cách khác, trong một thực tại bao gồm cả phương diện tốt và phương diện xấu, và điều đó có nghĩa là không chỉ cái tốt mới cần thiết mà thôi, nhưng cả cái xấu nữa cũng là một điều đương nhiên.

Nhưng rồi cái học thuyết vô lý đó đã trở thành một thảm kịch nội tâm đối với sự nhận thức của Augustinô, khi một người bạn vô cùng keo sơn thân thiết của ông (mà người ta không biết tên) qua đời và khiến ông rơi vào trong một tình trạng hoài nghi cực độ, đến nỗi ông đã nghi ngờ ngay cả chính bản thân mình: "Tôi đã trở nên một vấn nạn cho chính tôi." Đúng vậy, theo tâm lý mà nói, khi một sự xác tín cơ bản của con người bị sụp đổ, thì thường người ta không thể đơn giản thay thế vào đó một sự xác tín khác được. Augustinô trở thành một kẻ hoài nghi. Nhưng sau đó ông đã tìm gặp được nơi tân học thuyết Platon một điểm tựa tinh thần.

Tuy nhiên, kinh nghiệm về sự vô lý và trống rỗng vẫn còn theo đuổi ông, chứ nó chưa dễ dàng chịu buông tha. Tại kinh thành sầm uất hoa lệ Milanô, vị giáo sư khoa hùng biện thời danh đã đưa hết tâm huyết nghiên cứu ngành thơ phú và nghệ thuật diễn thuyết của người Roma. Tất cả những nghiên cứu này đã phong phú hóa rất nhiều cho kiến thức, nhưng trái lại không đem đến cho cuộc sống thực tiễn của Augustinô một sự định hướng và ý nghĩa rõ ràng nào cả. Một đàng, ông có ý định muốn trở thành Kitô hữu; nhưng đàng khác, những hiệu quả của sự hoài nghi vẫn còn in dấu sâu đậm nơi ký ức ông. Đây quả là một sự giằng co nội tâm đầy rắc rối khó khăn, đòi hỏi đương sự phải có một sự can đảm, sáng suốt, để có thể tìm ra được một lối thoát hợp lý, một bước ngoặt đúng đắn. Và bước ngoặt có tính cách quyết định trong đời Augustinô, chúng ta chỉ biết được và có lẽ chúng ta cũng có thể thực thi được, bởi vì chính Augustinô đã tự trình bày công khai. Đó chính là điều Augustinô đã làm trong tác phẩm thời danh "Confessio" (Tự Thú) của ông. Nhưng hai từ "Tự Thú" ở đây mang ý nghĩa kép: Trước hết, ông nhìn nhận tội lỗi và những sai lầm của mình và tiếp đến, ông tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa.

Sau khi được bầu làm Giám Mục thành phố hải cảng Hippo ở Bắc Phi Châu vào năm 395, và một ít năm sau đó Augustinô đã viết ra tác phẩm "Confessio". Quả thực, vị Giám Mục thành Hippo muốn thay đổi cuộc sống của mình, vì thế, cùng với các bạn hữu ông đã chuyên lo về vấn đề suy tư triết học. Với tư cách là một vị Giám Mục, Augustinô không chỉ chuyên tâm vào việc ấn hành sách vở và việc giảng thuyết, những việc làm rất được dân chúng ca ngợi, nhưng ngài còn phải thực hiện một cộng đồng thân hữu.

Nhưng dĩ nhiên, không vì tình bạn hữu thân thiện mà con người được phép để cho mình bị cuốn hút vào những tiêu cực thế nhân. (Bởi vậy, không phải là một chuyện tình cờ, khi Đức Bênêđíctô XVI trong thông điệp "Spe Salvi" vừa qua đã nhắc đến sự tự tìm gặp chính mình và qua đó sự vượt thắng chính mình.) Augustinô thường chỉ có thời giờ vào ban đêm để biên soạn các văn bản, và nhờ thế, ngài đã để lại trong kho tàng triết học và thần học Giáo Hội một tác phẩm vĩ đại. Tác phẩm "Tự Thú" là một cuốn sách mà không có một cuốn sách nào khác về triết học thời cổ đại, cũng như không một cuốn sách nào khác về thần học vào thời hậu cổ đại có thể so sánh được. Mặc dù cuốn sách mang tính cách tự thuật, nhưng trong đó người ta lại biết được rất ít về đời sống tư của tác giả. Ở đây các giai đoạn cuộc sống được đưa ra làm đối tượng cho những phân tích mổ xẻ, hay trở thành dịp cho những vấn nạn dồn dập xuất hiện, để rồi không được giải đáp.

Chẳng hạn nhà tư tưởng Augustinô tường trình về một lỗi lầm của tuổi trẻ: Ông đã lẻn sang vườn cây ăn quả của hàng xóm hái trộm một trái lê. Bây giờ những suy tư về vấn đề mang tính cách triết học và luân lý được đặt ra là: Nếu vườn cây trái lê của gia đình hàng xóm không hấp dẫn, thì phải chăng đã không có vấn đề hái trộm? Vâng, vị Giám Mục thành Hippo đã thú nhận tội hái trộm trái lê của hàng xóm khi ông còn trẻ. Tuy nhiên, vấn đề trọng yếu ở đây là ông muốn trình bày cái bí ẩn khó hiểu của các lý do. Ông xác tín tín rằng, nếu chỉ một mình mà thôi thì ông đã không làm điều đó. Như vậy là do sự ép buộc của một nhóm bạn bè? Nhưng tại sao lại bị ép buộc?

Nhà tư tưởng Augustinô mổ xẻ điều đó với nhiều ý nghĩa khác nhau được chứa đựng trong tiếng "tốt": Phải chăng những quả lê của hàng xóm thơm ngon đến nỗi khiến người ta không thể cầm mình được sao? - Thực ra, không phải thế, trong thực tế có lẽ những quả lê của khu vườn nhà mình còn thơm ngon hơn. Hay: Đám thanh niên chỉ muốn lấy trộm để ăn cho bớt đói? - Không, đó cũng không phải là lý do, bởi lẽ sau khi lấy trộm xong, họ lại ném mấy trái lê đi. Như vậy, nhà tư tưởng Augustinô đã xác nhận rằng hành động hái trộm quả lê của vườn nhà hàng xóm hoàn toàn không vì do sự vui thích hay vì một lợi ích nào cả; tuy nhiên, phải có một lý do "tốt" nào đó chứa ẩn trong hành động trên – tức giá trị thầm kín thôi thúc đưa tới hành động đó – nếu không, hành động "hái trộm" đã không xảy ra.

Nhà tư tưởng Augustinô đã trình bày điều đó bằng những lời quá nghiêm khắc và bi thảm, đến nỗi khiến cho không ít độc giả tân thời ngày nay cảm thấy như bị khiêu khích về cách quá "phóng đại" vấn đề tội lỗi. Bởi vì, theo họ, nội dung vấn đề ở đây chỉ là một vài quả lê lặt vặt. Nhưng đối với Augustinô thì ông lại xác tín rằng vấn đề trọng tâm ở đây là vấn đề nguyên tắc. Vì cuối cùng hành động bị cấm kị đã thực sự xảy ra. Nhưng nếu người ta làm một điều gì đó, bởi vì nó bị cấm, thì nó trở nên điều cấm kị, tức chính điều xấu trở thành nguyên tắc cho hành động, còn một vài quả lê trên thực tế chỉ còn là dịp để hành động được cụ thể hóa mà thôi.

Trong cuốn sách thứ bảy, Augustinô còn bàn đến đề tài này một lần nữa. Sau khi những xác tín của ông về thuyết Nhị Nguyên sụp đổ, nhà tư tưởng Augustinô đã tìm gặp nơi học thuyết hậu Platonisme một ánh sáng giúp nhìn thấy được rằng không phải tất cả đều trở thành thực tiễn trong cùng một cách thức như nhau. Bằng mọi giá, nhà tư tưởng Augustinô muốn biết là sự dữ xuất phát từ đâu, tức đâu là nguồn gốc sự dữ. Ông cũng cho hay là xưa kia ông rất sợ chết trước khi có thể khám phá ra được chân lý. Nhưng Augustinô đã nhận thức được rằng bản chất của sự dữ là sự tiêu diệt. Tuy nhiên, sự dữ không thể trở thành thực tiễn cùng một cách thức như cái bị tiêu diệt. Điều đó cũng muốn nói rằng, sự dữ thực sự hiện hữu và gây tác dụng thực tiễn. Tất cả những gì được tạo dựng nên đều thiện hảo, còn cái ngược lại, tức nguyên nhân gây ra sự tiêu diệt là xấu. Sự dữ không phải là một cái gì chỉ có vẻ bề ngoài, nhưng là một thực tại. Vì thế, nếu trong Kinh Lạy Cha chúng ta cầu nguyện: "Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ", thì điều đó gián tiếp quả quyết sự hiện hữu của sự dữ, vì chúng ta không cầu xin được gìn giữ trước một sự dữ "vô hữu". Một sự sợ hãi trước một sự dữ chỉ có vẻ bề ngoài mà thôi, chứ không hiện hữu thực sự, thì chỉ là một sợ hãi viễn vông, vô lý do. Như vậy, sự dữ là một cái gì thực tiễn.

Có lẽ thời kỳ nổi danh nhất của Augustinô, là khi ông tường trình về quyết định dứt khoát là xin được chịu Phép Thánh Tẩy của mình. Đó là điều đã xảy ra vào Lễ Phục Sinh năm 387 tại Milanô do Giám Mục Ambrôsiô chủ sự. Tuy nhiên, lúc bấy giờ trong lòng Augustinô không chỉ ngự trị hai "linh hồn", nhưng chính ông cũng bị phân hóa sâu xa với chính mình. Đúng lúc đó, ông đã nghe được câu hát của những đứa trẻ đang chơi ở vườn nhà bên cạnh: "Cầm lấy và hãy đọc đi!" Câu hát đơn sơ này đối với Augustinô trong lúc bấy giờ có một ý nghĩa hoàn toàn khác. Ông vội chạy đến nhà người bạn tên Alypius và mở Thư Thánh Phaolô liền gặp ngay câu này: "Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Đức Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng…" (Rm 13,13tt)

Như vậy, nhà tư tưởng Augustinô đã tìm được cho đời mình một định hướng rõ rệt. Nhiều năm sau đó, trong tác phẩm "Tự Thú", Augustinô còn suy tư và tự hỏi một lần nữa: Phải chăng ý chí không phải là một động lực thúc đẩy tự nhiên trong tác động của con người? Bình thường, người ta muốn hoặc cũng có thể người ta không muốn; hay nói rõ hơn, người ta muốn một điều gì đó, nhưng người người ta lại không muốn thực hiện nó. Nhưng dĩ nhiên, điều đó chỉ có giá trị nếu như trong những tình huống đòi hỏi phải có sự quyết định và đồng thời sự định hướng vẫn không thay đổi.

Nhưng bây giờ một vấn đề khác có liên quan đến điều mà Augustinô muốn định hướng trong tương lai. Ý chí của ông không bị phân hóa, ông cũng không lưỡng lự giữa hai ý chí, chẳng hạn: một đàng thì muốn chịu Phép Thánh Tẩy, còn đàng khác lại không muốn. Nhưng ý chí của Augustinô chỉ còn non yếu, chưa vững mạnh mà thôi. Và một ý chí còn non yếu thì không thể trở nên mạnh mẽ qua một sự quyết định được. Đối với Augustinô, điều đó cho thấy rõ ràng là trong một tình huống như vậy, chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể tìm ra được một lối thoát, một cách giải quyết hợp lý được. Vì thế theo ông, giáo huấn về ơn thánh là chính thần học giải phóng.

Nhà tư tưởng Augustinô muốn nói lên rằng mặc dù ông đã xa lìa Thiên Chúa, nhưng ngược lại, Thiên Chúa luôn ở bên ông và đồng hành với ông, cả khi ông bước đi trên con đường lầm lạc. Đúng vậy, Thiên Chúa luôn luôn gần gũi bên con người, dù cho con người thường đã không ý thức được sự hiện diện gần kề đó của Thiên Chúa. Đối với Augustinô, Thiên Chúa "còn gần gũi thân thiết với con người hơn cả con người đối với chính mình."

Sự cứu thoát không phát xuất từ con người, nhưng phát xuất từ nội tâm dưới tác động của Thiên Chúa. Điều đó cho thấy rằng, nhà tư tưởng Augustinô không viết cho những người tò mò, nhưng cho những người thường thất vọng nghĩ rằng cuộc sống của họ vô ý nghĩa và không có mục đích hay không phải là mục đích mà họ có thể đạt tới và hiện thực được. "Con đã yêu Chúa trễ tràng". Trễ tràng, nhưng không quá trễ.

Đây quả thực là lịch sử một cuộc đời đi tìm kiếm đức tin một cách lạ lùng không thể tưởng tượng được. Chính từ cuộc đời đó nhà tư tưởng Augustinô đã biên soạn ra được một tác phẩm vĩ đại và vô giá: Cuốn "Confessio" - hay Bekenntnisse, hay Tự Thú. Và đó phải là tác phẩm của một vị thánh. Vâng, tác giả của tác phẩm vĩ đại "Tự Thú" là một vị thánh, một vị đại thánh của Giáo Hội: Thánh Augustinô!Sách tham khảo:

Augustinus: "Bekenntnisse"(Tự Thú). Sel Verlag, Frankfurt am Mainz 2006.

Guong Thanh Nhan


St. Augustinus of Hippo
Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh
(354-430)

Aurelius Augustinus sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Tagaste, Numidia thuộc Bắc Phi Châu. Cha Ngài là người ngoại giáo, mẹ Ngài là Thánh nữ Monica.

Nhận thấy Augustinô sáng trí và có nhiều triển vọng nên hai ông bà quyết định cho Ngài theo đuổi việc học tới cùng. Nhưng tại kinh thành Carthage, Augustinô bị tiêm nhiễm bởi nếp sống trụy lạc sa đoạ và chạy theo những tư tưởng lạc giáo Manichaeans trái nghịch với đức tin Công Giáo. Mẹ Ngài hết sức đau buồn và bà hằng cầu nguyện cho Ngài.

Sau những năm đắm mình trong tà thuyết và lạc thú, Augustinô chán ngán và rơi vào một tình trạng cô đơn, sầu muộn tột độ. Chính trong lúc ấy, Chúa đã đến gõ cửa lòng Ngài; chỉ một câu Thánh kinh: "Ðừng sống theo dục tình và lạc thú dâm ô nữa, nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô" đã khiến đời Ngài chuyển hướng hoàn toàn. Ngài bắt đầu nghiên cứu giáo lý Công Giáo, theo sự chỉ dẫn của Ðức Cha Ambrosiô ở Milan và Ngài đã được rửa tội năm 387, lúc đó Ngài đã 33 tuổi.

Mẹ ngài qua đời, ngài trở về Carthage (Phi Châu) và bán hết tài sản cho người nghèo, sống một cuộc đời khổ hạnh và sám hối trong một dòng tu. Sau đó Ngài được đề cử làm Giám Mục thành Hyppo năm 396. Sự khôn ngoan và thánh thiện của Ngài đã giúp cho Giáo Hội Phi Châu tiến triển rất nhiều. Ngài còn để lại những bộ sách quý giá về thần học, minh giáo và chú giải Thánh kinh. Trong suốt khoảng thời gian làm Giám Mục, Ngài còn thể hiện một tinh thần khiêm tốn và tình huynh đệ bác ái tuyệt hảo đối với các Linh Mục dưới quyền Ngài.

Thánh nhân qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430 tại Hippo, hưởng thọ 76 tuổi. Mộ thánh nhân được an vị trong VCTĐ San Pietro tại Cielo d’Oro, Pavia thuộc miền Bắc nước Ý Đại Lợi, nơi giữ hài cốt của thánh Augustinô kể từ năm 725. Ngày 20 tháng 9 năm 1295, Đức Giáo Hoàng Bonifacius VIII đã tuyên phong thánh Augustinus ở Hippo cùng với thánh Ambrosius, thánh Gregory Cả và thánh Jérome là các thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội La Tinh .

Là Kitô Hữu lúc 33 tuổi, làm linh mục lúc 36 tuổi, được tấn phong giám mục lúc 41 tuổi: ai ai cũng quen thuộc với tiểu sử tóm lược của Thánh Augustine Hippo, một tội-nhân-trở-thành-thánh-nhân. Nhưng có thực sự biết về cuộc đời thánh nhân thì điều đó mới có giá trị. Dù khi xa cách Thiên Chúa hay hướng về Thiên Chúa, đời sống của ngài mau chóng đạt đến mức độ mãnh liệt. Nước mắt của mẹ ngài, những lời huấn đức của Thánh Ambrôsiô và, trên hết mọi sự, chính Thiên Chúa nói với ngài qua Kinh Thánh đã thay đổi tính yêu đời của Augustine thành một cuộc đời đầy bác ái.

Từng đắm chìm trong sự cao ngạo về cuộc đời mình trong thời niên thiếu và từng say sưa cặn bã cay đắng của cuộc đời, nên người ta không ngạc nhiên khi thấy Augustine quay trở về, với sự thánh thiện mãnh liệt, để chống trả những tấn công của ma quỷ trong cuộc đời ngài. Thời đại của ngài thực sự sa sút -- về chính trị, xã hội và luân lý. Người ta vừa sợ và vừa mến ngài, giống như Thầy Giêsu. Ngài bị chỉ trích không bao giờ cùng: là bản tính khắt khe của loài người.

Cuộc đời ngài, do thiên ý, ngài đã chu toàn nhiệm vụ của một ngôn sứ. Như ngôn sứ Giêrêmia và các vị đại ngôn sứ khác, ngài bị chèn ép nhưng không thể giữ im lặng. "Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhắc đến Ngài, tôi sẽ không nhân danh Ngài mà lên tiếng nữa. Nhưng rồi như lửa bừng cháy trong tim, giam hãm thân thể tôi; và tôi cầm hãm không nổi, chịu đựng không thấu" (Giêrêmia 20:9).

Lời Bàn

Trong thời đại chúng ta, Thánh Augustine vẫn còn được xưng tụng và vẫn còn bị kết án. Ngài là vị ngôn sứ của thời đại ngày nay, thúc giục chúng ta phải từ bỏ khuynh hướng thoát ly thực tế và can đảm đối diện với trách nhiệm và phẩm giá của mỗi một con người.

Lời Trích

"Thật quá trễ để con yêu mến Ngài, ôi Ðấng Tuyệt Mỹ của ngày xa xưa ấy, nhưng mới lạ hơn bao giờ hết! Thật quá muộn để con yêu mến Ngài! Và đây, Ngài ở bên trong, và con ở bên ngoài, và con đi tìm Ngài; con bị méo mó, đắm chìm trong những hình dạng đẹp đẽ mà Ngài đã dựng nên. Ngài ở với con, nhưng con không ở với Ngài. Nhiều thứ đã giữ con xa Ngài -- những thứ mà nếu chúng không ở trong Ngài, thì chẳng là gì cả. Ngài kêu lớn và gào thét vào sự ngơ điếc của con. Ngài lấp lánh và chiếu sáng vào sự mù quáng của con. Ngài thở hương thơm và con bị lôi cuốn -- và con khao khát Ngài. Con đã nếm thử, và con đói khát. Ngài chạm đến con, và con đã bừng cháy vì sự bình an của Ngài" (Tự Thú của Thánh Augustine).

(Trích Gương Thánh Nhân - ns Người Tín Hữu online)
(Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints)

Guong Thanh Nhan



THÁNH NỮ MONICA (St. Monica)

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

Có những giọt nước mắt đem lại hạnh phúc cho người khác.Có những giọt lệ làm lay chuyển tâm hồn người khác . Giọt nước mắt của người mẹ luôn có tác dụng rất lớn đối với con cái. Giọt nước mắt của thánh nữ Monica đã biến đổi cả cuộc đời của Augustinô,người con trai, đầu lòng thông minh nhưng ngang tàng, trụy lạc. Thánh nữ Monica đã cầu nguyện, đã khóc lóc, Chúa đã nhậm lời và ban cho con của thánh nữ là Augustinô ơn cải hóa từ tâm, ơn đổi mới tâm hồn,ơn làm đẹp con tim :con tim mới,cái nhìn mới .

MỘT CON NGƯỜI

Có một người nữ được sinh ra trong một gia đình đạo hạnh, thánh thiện:tên người nữ ấy là Monica . Monica sinh vào năm 332 tại làng Sucara bên Phi Châu.Gia đình Monica vốn có truyền thống đạo đức,yêu thương tha nhân,yêu thương người nghèo .Được sống trong bầu khí đạo đức của gia đình, monica sớm trở thành một cô bé ngoan hiền, nhiệt thành, sốt sắng. Ngay từ lúc còn nhỏ Monica đã có tâm hồn quảng đại yêu thương người nghèo:mỗi bữa cơm Monica thường dành ra một phần cho người đói túng thiếu và Monica thường tìm chỗ vắng vẻ để thân mật nói chuyện với Chúa .Monica đã biết biến những phút giây gặp gỡ người nghèo, chia sẻ cho người nghèo, cầu nguyện làm hạnh phúc cho đời mình. Cô đã biết biến những phút giây ấy làm phút giây cứu độ cho mình và cho người khác.

Con người đạo đức vẫn thường gặp truân chiên như nhiều người thường nói . Oâng Gióp đã là chứng minh hùng hồn cho cuộc đời thánh thiện,nhưng gặp toàn những chuyện thử thách,rắc rối .

Thánh Giuse là người công chính nhưng cũng gặp đắng cay nếu không hiểu được ý Chúa, chắc chắn Người đã đứt gánh giữa đường. Monica cũng nằm trong diện ấy . Năm 22 tuổi,vì vâng lời cha mẹ, thánh nữ đã kết hôn với Patricius thuộc dòng dõi quí phái,nhưng tính tình xấu xa,ngang ngược,độc ác và lại hơn Monica cả hai con giáp.Đau khổ nhưng Monica đã chấp nhận ý cha mẹ và âm thầm cầu nguyện cho chồng vì thánh nữ xác tín mình sẽ cứu được một linh hồn trở về với Chúa.Nhờ lòng quả cảm,đức tính khiêm nhường,và nhờ cầu nguyện vững tin vào Chúa, Monica đã cảm hóa được người chồng và sau này bà sinh được 3 người con mà Augustinô là con đầu lòng sau này chính nhờ những giọt lệ thành tâm và nhờ lời cầu nguyện liên lỉ của thánh nữ, Augustinô đã trở lại và trở nên thế giá , trở nên thánh .

VẪN GIỌT NƯỚC MẮT CỦA MONICA

Monica tuy sống trong một gia đình ngoại giáo,đã luôn chứng tỏ bà có Chúa ở cùng.Sự thánh thiện, lòng quảng đại, yêu thương của Monica đã cảm hóa được người chồng ác độc,ngang tàng,ích kỷ. Monica luôn dậy con cái biết mến Chúa, yêu người .Bà luôn yêu thương con cái với tất cả con tim,với tâm hồn đầy ắp Chúa . Bà đã biết biến mọi giây phút trong cuộc đời của bà trở thành những giây phút,những cơ hội hồng ân để thay đổi lòng người khác. Chính cái phút giây bà vâng lời cha mẹ kết hôn với Patricius đã thay đổi đời bà, nghĩa là bà đã chấp nhận điều mình không ưa thích để biến nó thành phút giây cứu độ cho mình và cho người mình sẽ sống, sẽ nhận làm chồng dù rằng bà biết bà sẽ phải đau khổ nhiều, phải hy sinh, phải từ bỏ.Tình yêu Đức Kitô thúc bách bà . Bà đã đi tới cùng, bà đã làm thay đổi chồng, con và biến đổi người con trụy lạc,ham chơi, ham lạc thú là Augustinô trở nên người con tốt, người con đẹp cho Giáo Hội . Qua những giọt lệ của Monica, qua lời cầu xin tha thiết của bà, monica đã làm thay đổi tất cả, đã làm mới mọi sự để bà có thể nói được như ông già Siméon :” Giờ đây xin để tôi tớ ra đi bình an…” .

Thánh nữ Monica đã qua đời năm 387 sau khi Augustinô được thánh Giám mục Ambrosiô rửa tội.Thánh nữ được an táng tại Otti . Đức Thánh Cha Martinô truyền đem xác thánh nữ về nhà thờ Thánh Augustinô ở Roma vào năm 1430.

Lạy Thánh nữ Monica, xin ban cho các bà mẹ công giáo luôn có tâm hồn thánh thiện và đạo đức như thánh nữ .
Xin cho các bà mẹ luôn biết giáo dục con cái mình biết mến Chúa và yêu người .
Xin cho các bà mẹ công giáo luôn biết nêu gương sáng cho con cái trong đời sống để con cái nhiệt thành mến Chúa và yêu tha nhân.