Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2010

Nghe Thuat Song Dep - Song Khoe - Song Vui



Cửa sổ tâm hồn
Thứ Bảy, 28/11/2009, 09:34 (GMT+7)

Vòng quanh blog trẻ

Tôi hạnh phúc

TTCT - Buổi tối, cà phê với một đứa bạn thân hồi cấp 3. Lâu rồi xa nhau không liên lạc nên gặp lại đứa nào cũng có khối chuyện để nói. Hết lớp 12, tôi tiếp tục theo nghiệp đèn sách, còn nó ở nhà phụ gia đình buôn bán quán ăn hải sản.

Nó kể cho tôi nghe về chuyện tình yêu, chuyện gia đình, chuyện những mối quan hệ đang bao trùm cuộc sống của nó. Rồi nó lo tới chuyện cưới xin, chuyện cuộc sống tương lai... (nói chung nó là một “bà già” luôn lo lắng, nó 22 tuổi rồi mà...).

Còn tôi, một thằng nhóc vừa 19 tuổi cứ huyên thuyên kể về đời SV, về những em bé ung thư tôi gặp và tiếp xúc hằng tuần, về những bào thai chưa bao giờ thành hình mà đã bị giết chết trong bụng mẹ, về những người tôi đã quen, đã tiếp xúc...

Nó uống Lipton, tôi dùng cà phê sữa đá. Nhấp một ngụm rồi nó chợt ngước lên nhìn tôi mà bảo: “Ông thật hạnh phúc”.

Hớp vội một hớp cà phê, tôi mới nói với nó rằng: “Ừ, tui hạnh phúc”. Nó cười...

Nếu xét về một góc độ nào đó trong cuộc sống thì quả thật tôi đang thật sự hạnh phúc hơn rất nhiều người...

Tôi hạnh phúc hơn hàng trăm em bé sơ sinh chưa bao giờ được nhìn thấy mặt trời mà đã bị giết chết trong bụng mẹ hằng tuần tại các bệnh viện phụ sản. Cuộc sống đã đưa đẩy cho tôi được quen với một nhóm bác ái chuyên đi thu nhặt thi thể các hài nhi xấu số ấy mang về chôn cất.

Tôi hạnh phúc hơn những bé bị bệnh ung thư tôi gặp gỡ hăng tuần. Khi vào độ tuổi các em, tôi được sống khỏe mạnh, được đến trường, được tự do chạy nhảy... Nay các em còn quá ngây thơ, quá trong sáng, lại đang mang trong mình một căn bệnh khó trị... Có em là lớp trưởng học giỏi, nay lại phải nằm liệt giường... Có em thích được mẹ cột tóc thắt bím, nhưng ngặt nỗi em không còn một sợi tóc trên đầu! Và cũng có em mong ước được biết đến con chữ, vậy mà lại không thể đợi nổi một ngày để mang cặp đến trường.

Tôi hạnh phúc vì trái tim tôi còn biết yêu, biết rung động trước cái đẹp. Có nhiều người đã bị cuộc sống này làm xơ cứng con tim. Họ tạo cho mình một vỏ bọc cứng cáp nhưng bên trong lại là những dằn vặt tâm lý...

Và tôi hạnh phúc hơn rất nhiều người đang lâm vào bế tắc mà không có một nguồn hi vọng... Tôi có niềm tin, có những người luôn bên tôi, vực tôi dậy sau những cú té đau do sự háo thắng của một thằng nhóc mới chập chững bước vào đời...

19 tuổi, tôi còn trẻ, tôi còn đủ sức bước, thế nên tôi sẽ ra đi, sẽ đến với những ai cần tuổi 19 của tôi. Tôi muốn chia sẻ cho họ niềm hạnh phúc mà tôi đang có và nhờ đó tôi sẽ góp phần củng cố thêm một sự thật rằng: “Tôi hạnh phúc”...

Blogger HARRY


Tình yêu - Lối sống
Thứ Năm, 07/01/2010, 16:11 (GMT+7)

Viết cho thiên thần của tôi:Ngày con tròn tuổi

TTO - Xuân này con gái ba tròn một tuổi. Ngày con chào đời cả nhà ai cũng vui mừng, con lớn lên trong tình yêu thương của ông bà nội ngoại, của các bác cậu dì.

Một năm qua và về sau này nữa con sẽ được sống trong muôn vàn yêu thương của nhà mình.


Xuân này con gái ba tròn tuổi


Ba mẹ chờ đợi ngày con tròn tuổi cũng là mong chờ ngày con chập chững bước đi đầu tiên. Khi con sáu tháng mẹ đã mua chiếc ghế có gắn bánh xe cho con mau biết đi. Con rất vui thích khi ngồi vào chiếc ghế đó, cả nhà còn vui hơn con. Con mọc răng biếng ăn ai cũng lo lắng, vì yêu thương cả đấy con gái của ba! Khi con về nội, bà ngoại cứ nhắc nhở bữa ăn giấc ngủ của con. Lúc ở với ngoại, bà nội nhắc hoài đứa cháu tinh nghịch, kháu khỉnh. Ba vui vì con gái ba có được rất nhiều yêu thương.

Những ngày đầu xuân này con tập đứng rồi vụng về từng bước đi đầu tiên. Mỗi bước đi của con mang lại rất nhiều niềm vui và rộn rã riếng cười vì mọi người đều mong chờ diều ấy. Ba hi vọng sau này con sẽ vững bước trên đường đời vì bên con có nhiều người yêu thương, mong đợi con thành người hữu dụng.

Ngày con tròn tuổi sẽ có những cành mai nở hoa vàng rực bên cạnh mâm cơm truyền thống. Con sẽ bước sang tuổi mới trong nắng xuân ấm áp, trong lúc đất trời tươi đẹp và vạn vật tràn đầy sức sống. Ba rất vui mừng khi con gái ba tròn tuổi trong không gian xuân sáng trong niềm tin và hạnh phúc.

Sinh nhật đầu tiên của con, bà nội gọi là ngày thôi nôi, đang đến rất gần. Nắng xuân đã ấm hơn, hoa xuân nở nhiều hơn và lòng ba càng vui hơn. Chúc con gái yêu một năm mới, một tuổi mới chóng lớn, ngoan ngoãn như mong đợi của cả nhà mình.

Theo phong tục quê mình, ba sẽ chuẩn bị nhiều thứ cho con chọn vào lúc làm lễ thôi nôi. Bà nội bảo trẻ cầm cái gì thì sau này sẽ thích làm việc liên quan đến vật đó. Ba mong con chọn lấy một vật thật đẹp cho cuộc đời, con gái thương yêu ạ.

LÊ QUANG THỌ
(THCS Lê Đình Chinh, Quảng Điền, Krông Ana, Đắc Lắc)

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2010

"Phuc cho ai song trong sach, vi ho se duoc nhin xem Thien Chua"



Chính trị của khiêu dâm

Tại nhiều thành phố lớn của Mỹ, các khu hào nhoáng trước đây vốn chứa những rạp chiếu bóng, những tiệm sách khiêu dâm và nhiều ổ múa cởi truồng đã biến đi, nhường chỗ cho những cao ốc tráng lệ dùng làm văn phòng hay những tiệm cà phê sang trọng. Có phải dấu chỉ canh tân đô thị ấy cũng có nghĩa việc canh tân luân lý hay không? Phải chăng nước Mỹ, sau cùng, đã chán chường cái trò khiêu dâm kia? Bất hạnh thay, không hẳn như vậy. Kỹ nghệ khiêu dâm chỉ rời địa điểm từ những khu phố nội thành tới một chỗ còn gây hại hơn nữa, đó chính là gia đình, nơi nó xâm nhập một cách nhẹ nhàng nhờ những phương tiện kỹ thuật tân tiến nhất.

Tờ U.S. News and World Report số ngày 10 tháng Hai năm 1997, tiết lộ nước Mỹ đã sa lầy một cách sâu xa ra sao trong việc mô tả mồn một những tồi tệ về tình dục của mình. Và một trong các dấu chỉ của thời đại là bài báo về khiêu dâm được dùng làm bìa này đã được trình bày trong phần “Kinh Doanh và Kỹ Thuật”. Bài báo này cho hay: văn hóa khiêu dâm hạng nặng hiện đã trở thành một kỹ nghệ trị giá tới 8 tỷ mỹ kim. Một bài báo khác, tựa là “Khiêu Dâm Đi Vào Chính Dòng” (Porn Goes Mainstream) cũng được đăng trong phần “Kinh Doanh”, nhưng của tạp chí Time số ngày 7 tháng Chín năm 1998, còn ước lượng lớn hơn thế, cho rằng kỹ nghệ ấy đạt tới 10 tỷ mỹ kim. Điểm giống nhau của hai bài báo ấy là: văn hóa khiêu dâm hạng nặng hiện vượt quá số thu nhập của mọi cuốn phim của Hollywood chiếu tại các rạp trong nước và hơn hẳn mọi doanh nghiệp nhạc rock và nhạc “đồng quê” (country music) gộp lại. Năm 1996, 665 triệu cuốn video khiêu dâm hạng nặng đã được thuê bao, hơn hai cuốn cho mỗi người đàn ông, đàn bà, và trẻ em tại Mỹ. Tình dục hiển thị đã trở thành yếu tố quyết định đối với các tiệm video, các công ty vận chuyển đường dài như AT&T, các công ty truyền hình cáp hệ (cable companies) như Time Warner và Tele-Communications, Inc., cũng như các hệ thống khách sạn như Marriott, Hyatt, và Holiday Inn. Thêm vào đó, còn có khoảng 100,000 trang mạng khiêu dâm trên Liên Mạng, cung ứng hàng triệu các hình ảnh khiêu dâm hạng nặng, mà một số người ta còn có thể “hành động qua lại” (interactive) được. Văn hóa khiêu dâm quả đã trở thành chính dòng. Làm thế nào một việc như thế lại có thể xẩy ra?

Dân chủ trị sản sinh ra khiêu dâm trị

Một câu giải đáp đã được Milos Forman đưa ra. Ông này vốn là nhà đạo diễn của The People vs. Larry Flynt, một cuốn phim nói về nhà xuất bản của tạp chí Hustler. Để bênh vực cho cuốn phim của mình, Forman cho rằng dù ta không thích văn hóa khiêu dâm, nó vẫn hết sức chủ yếu đối với nền tự do của ta. Ông ta lấy kinh nghiệm bản thân đã sống dưới hai chế độ Quốc Xã và Cộng Sản để minh họa tầm quan trọng của Tu Chính Án Thứ Nhất. Forman chủ trương rằng: nếu ta cho phép hủy diệt một hình thức ngôn luận dựa vào ý kiến của một số người không thích hình thức ấy, thì ta không thể không cho phép việc hủy diệt bất cứ hình thức ngôn luận nào. Bác bỏ một chọn lựa, là bác bỏ mọi sự chọn lựa khác. Đã nhận là nhận tất cả. Đã bác bỏ là bác bỏ tất cả. Dân chủ trị phải sản sinh ra khiêu dâm trị, vì xem ra dân chủ là phải được hoàn toàn tự do chọn lựa bất cứ điều gì mình muốn.

Ngày nay, một quan điểm như trên ít còn bị ai coi là cực đoan nữa. Dù sao, chính Tối Cao Pháp Viện, trong phán quyết Planned Parenthood vs. Casey năm 1992 đã phát biểu rằng: “Ở tâm điểm của tự do, chính là quyền người ta được tự xác định lấy ý niệm riêng của mình về hiện hữu, về ý nghĩa, về vũ trụ và về lẽ huyền nhiệm của sự sống con người”. Áp dụng thứ triết lý “giải phóng” ấy vào văn hóa khiêu dâm, Chánh Án Liên Bang của New Jersy là Alfred Wolin đã nghiêng về phía hai tên ấu dâm, lúc ấy đang thách thức lệnh cấm văn hóa khiêu dâm tại cơ sở cải tạo Avenel của tiểu bang dành cho các phạm nhân liên tiếp phạm tội tình dục. Và Tòa Thượng Thẩm thứ 9 ở San Fransisco đã phán quyết là vi hiến lệnh của một quận thuộc tiểu bang Arizona cấm không cho vẽ hình loã thể tại các phòng giam của quận

Nếu thứ triết lý đứng đàng sau phán quyết Casey mà đúng, thì chủ trương của Forman cũng đúng luôn. Và nếu cứ như thế, thì kết cục không còn tiêu chuẩn nào nữa để phân biệt giữa khiêu khâm và các hình thức ngôn luận khác, tất cả chỉ tùy ở khiếu thưởng thức của bản thân mình mà thôi. Việc nhìn nhận rộng rãi đối với quan điểm này đã mở rộng cửa cho văn hóa khiêu dâm hạng nặng tràn vào. Chỉ có vấn đề là việc tràn ngập này đe dọa chính nền dân chủ đã từng cho phép nó tràn vào.

Chìa khóa tự do là đức hạnh

Lý do: chìa khóa của tự do không phải là việc tự do chọn lựa. Như ta biết trong trường hợp Cộng Hòa Weimar, người dân được tự do chọn lựa bất cứ điều gì, kể cả Hitler. Thực ra, như các nhà lập quốc của Hoa Kỳ từng chủ trương, chìa khóa của tự do chính là đức hạnh (virtue). Chỉ có con người đức hạnh mới có khả năng biết đồng ý cách hợp lý vì chỉ có lý trí của con người đức hạnh mới không bị các lý giải thường tình của tội ác phủ mây mù. Tội ác luôn luôn làm độc khả năng phán đoán. Bất chấp các định chế của họ có dân chủ đến đâu, những con người bị yếu liệt về luân lý không thể nào tự do được. Và những người đã trở thành nô lệ cho dục vọng của mình chắc chắn cũng trở thành nô lệ cho những tên bạo chúa. Chính vì thế, các vị lập quốc của Mỹ đã xây dựng sự thành công của nền dân chủ Mỹ trên đức hạnh của người dân Mỹ.

Dưới ánh sáng trên, quả là sai lầm hay xuyên tạc theo kiểu Orwell khi cho rằng nước Mỹ tự do vì nó đã sản xuất ra văn hóa khiêu dâm hạng nặng, như Forman vốn nghĩ. Các tác giả của Tu Chính Án Thứ Nhất chắc chắn nghĩ ngược lại, mà cho rằng: việc chấp nhận văn hóa khiêu dâm sẽ đưa tới chỗ hủy diệt khả năng tự do của ta, cả theo nghĩa bản thân lẫn nghĩa chính trị, và do đó phải bị nghiêm cấm.

Các vị lập quốc của Mỹ từng ngăn cấm văn hóa khiêu dâm không những vì nó phá hoại đức hạnh, nhưng vì nó còn tấn công cả nền tảng chính trị của xã hội nữa. Dù phần lớn được tiêu thụ một cách tư riêng, nhưng khiêu dâm đã trở thành một vấn đề chính trị khi được phổ biến vì nó phá hoại đức trong sạch (chastity). Trong sạch không phải chỉ là một nhân đức luân lý; nó còn cần thiết đối với trật tự chính trị. Trong sạch là thành phần yếu tính đối với việc vận hành của cốt lõi chính thể. A-rít-tốt không khởi đầu cuốn The Politics bằng một cá nhân nhưng bằng việc mô tả một người đàn ông và một người đàn bà sống với nhau trong một gia đình. Không có gia đình ấy thì toàn bộ xã hội không hiện tồn. Một gia đình lành mạnh phải được đặt căn bản trên liên hệ tính dục độc hữu giữa một người chồng và một người vợ. Chỉ riêng gia đình mới có khả năng đem lại sự ổn định cần thiết cho mối liên hệ sâu xa mà sự kết hợp tính dục vừa biểu tượng vừa keo sơn gắn bó, và cho phúc lợi của con cái vốn từ đó phát sinh ra. Phạm đến đức trong sạch không những phá hoại gia đình, mà còn phá hoại cả toàn bộ xã hội nữa. Cho nên, ta có thể gọi đức trong sạch là nguyên tắc chính trị đầu hết.

Phá hoại mối liên kết tính dục của vợ chồng

Không gì phá hoại mối liên kết tính dục của vợ chồng bằng văn hóa khiêu dâm. Như cha

James Schall từng viết trên Crisis, “Bất cứ khi nào ta tìm khoái lạc mà không đặt cơ sở đúng sai của nó trên hành động trong đó nó hiện hữu, là ta tách rời khoái lạc, hay hành động, ra khỏi thực tại”. Văn hóa khiêu dâm tách biệt hành động thể lý của làm tình và khóai lạc nó đem lại ra khỏi thực tại bằng cách biến nó thành một đồ vật để ngắm nghía. Văn hóa khiêu dâm thu gọn hành vi phu thê vào một biến cố có tính tuyến hộ (glandular); nó không thể “nhìn” hành vi kia như một hành vi yêu thương, cùng lắm chỉ như những người làm tình. Nhưng như John Wayne có lần phát biểu, tình dục không phải là một môn thể thao dành cho khán giả (spectator sport).

Biến việc làm tình thành một vật để nhìn là giật gân hóa nó và tách biệt nó khỏi hậu cảnh kết hợp và phụ tạo (procreative) của nó. Văn hóa khiêu dâm biến thành phần thành toàn bộ và biến phương tiện thành mục đích. Làm thế, nó đã dối trá về điều nó muốn trưng bày: chính bản chất của bộ phận sinh dục đã bị bác bỏ. Vì chúng hoàn toàn vô sinh (sterile). Văn hóa khiêu dâm loại bỏ việc thụ thai, vì theo lẽ tự nhiên, khả thể có thai đã qui hướng việc làm tình theo một mục đích bên trong gia đình. (Nếu coi việc làm tình có tính sản sinh, thì việc mô tả về nó gần như không bao giờ bị coi là khiêu dâm cả. Đó chính là lý do khiến các hình ảnh sinh nở trong nghệ thuật thị tộc của Phi Châu, như các hình ảnh âm hộ hay nhũ hoa phần lớn quá khổ của họ, không bao giờ bị coi là khiếm nhã cả về ý hướng lẫn hiệu quả). Việc vi phạm tới mối liên hệ nhân bản căn rễ giữa vợ chồng đã gieo họa cho toàn bộ trật tự xã hội và chính trị. Nếu đức trong sạch cần thiết, không thể không có, đối với trật tự chính trị, thì nền chính trị của khiêu dâm quả là hỗn mang, và sự hỗn mang này chắc chắn sẽ dẫn tới chế độ bạo quyền.

Người xưa hiểu rõ điều trên. Euripides và các nhà Cổ Điển Hy Lạp, vốn được các nhà lập quốc Mỹ học hỏi, biết rất rõ rằng Eros (tình yêu nhục dục) không phải là một trò đùa. Trong The Bacchae, Euripides chứng minh cho thấy việc làm tình sẽ bất ổn xiết bao khi tách nó ra khỏi trật tự luân lý. Khi Dionysus viếng thăm Thebes, ông dụ Vua Penthius bí mật đi coi các phụ nữ loã thể đang khiêu vũ tại sườn núi phía địch thù l à ph ía c ủa Dionysus. Vì Penthius sa ngã, chiều theo ham muốn xác thịt, nên trật tự chính trị của ông xụp đổ, và bà mẹ ông là hoàng thái hậu Agave chỉ còn biết tiếp nhận thủ cấp con trong lòng.

Bài học khá rõ: một khi buông lỏng Eros ra khỏi các ràng buộc của gia đình, thì các đam mê sẽ chiếm hữu linh hồn. Chiều theo chúng là một hình thức điên loạn vì các thèm muốn xác thịt không được qui về một cùng đích nào có thể làm chúng thỏa mãn. Thèm khát ấy không bao giờ no thỏa. Nguyên khối lượng văn hóa khiêu dâm đủ để minh chứng điều ấy. Tại sao lại có quá nhiều thứ văn hóa ấy? Vì khiêu dâm chỉ nói về một chuyện, nên các khả thể nói về nó hiển nhiên phải hạn chế mới đúng chứ, cùng lắm chỉ để làm tài liệu. Như thế chỉ cần một bộ gồm một ngàn phim khiêu dâm là đủ rồi mới đúng chứ. Nhưng rõ ràng không phải thế, vì trên thực tế có cả hàng ngàn phim khiêu dâm như vậy. Mỗi tuần, riêng tại Mỹ mà thôi, có đến 150 phim được sản xuất, mỗi năm có tới 8,000 phim. Thêm vào đó, còn có hàng triệu hình ảnh khiêu dâm trên liên mạng và vô vàn tạp chí khiêu dâm hàng tháng. Ấy thế nhưng hình như vẫn không đủ, vẫn thiếu. “Không bao giờ đủ” chính là khủng hoảng thèm thuồng và là công thức đem tới thảm họa chính trị. Vì hứa hẹn một điều mà nó không có khả năng đem tới, nên sau cùng nền văn hóa khiêu dâm này chỉ đem lại một cảm thức bị phản bội. Sự vô nghĩa phù phiếm, nội tại ngay trong văn hóa khiêu dâm, rốt cuộc sẽ sản sinh ra giận dữ dẫn tới bạo lực, chán nản dẫn tới tự hủy.

Khiêu dâm từng được cố tình sử dụng như một thứ thuốc mê hoặc về xã hội và chính trị trong thời buổi có những thay đổi cách mạng. Để chuẩn bị cho Cách Mạng Pháp, nhóm Jacobins từng làm Paris tràn ngập văn hóa khiêu dâm. Còn có ai hiểu nền chính trị của khiêu dâm hay hơn Marquis de Sade, nhà khiêu dâm hàng đầu? De Sade từng hết sức thèm khát dục vọng xác thân mà không đếm xỉa gì tới các hạn chế của luân lý và thấy rõ điều ấy cuối cùng sẽ có nghĩa như thế nào. Trong cuốn The Philosophy of the Boudoir, de Sade viết rằng việc sát hại Vua Louis XVI không đủ đem lại tự do cách mạng hằng mong muốn. Luân lý tính của trật tự xã hội và chính trị đâu có chết sau khi nhà vua bị chặt đầu! Làm thế nào để triệt hạ cho bằng được cái luân lý tính ấy? Là người đầu tiên sử dụng lối nói, de Sade viết rằng việc sát hại nhà vua kia phải được tiếp nối bằng việc “sát hại Thiên Chúa”. Chỉ khi nào bãi bỏ được cái nền luân lý do Ông Vua Thần Thánh kia biểu tượng thì con người mới thực sự tự biểu lộ qua cái viên mãn của một cuộc hiện sinh khiêu dâm. Điều ấy, sau việc giết vua và giết Chúa, phải bao gồm cả việc giết người nữa. De Sade nhận ra và mô tả trong tác phẩm của mình một thứ luận lý chắc nịch về khiêu dâm: làm tình bên ngoài trật tự luân lý cuối cùng sẽ dẫn tới sát nhân và cái chết. Ông Hầu Tước chắc chẳng ngạc nhiên bao nhiêu khi FBI, trong một cuộc nghiên cứu về sát nhân, cho biết: khiêu dâm là ý thích thông thường nhất của các tên sát nhân hàng loạt. Như một tội phạm sát nhân và là người xách nhiễu tình dục trẻ em từng nói với Ủy Ban Meese: “Hiệu quả của khiêu dâm đối với tôi thật tàn hại. Tôi mất hết ý thức về thuần phong và tôn trọng sự sống con người”.

Khiêu dâm dẫn tới tự hủy

Ngày nay, người ta xem ra không học được bài học nào trên đây của Euripides vì ông ta đâu có được kể tên trên học trình hiện nay. Nhưng một sứ điệp y hệt đang trồi lên một cách rõ nét trong các phim khiếp đảm tân thời. Lời dạy không thay đổi và gần như không cố ý của những cuốn phim trên là như thế này: nếu bạn hoang dâm, bạn sẽ chết. Điều ấy được phát biểu một cách không chải chuốt trong những phim giết người (slasher movies) như Friday the 13th (Thứ Sáu Mười Ba), trong đó, việc làm tình trước hôn nhân của thiếu niên đã làm gia tốc việc xuất hiện của con quái vật, m ột con vật sẽ đóng cọc qua tim hay đóng búa vào đầu những người hoang dâm. Tuy nhiên, một cách bàn bạc có tính tân kỳ hơn về đề tài này tìm thấy trong Aliens 3, là cuốn thứ ba trong bộ bốn cuốn phim khiếp đảm.

Trong cuốn phim khiếp đảm có tính giả tưởng khoa học này, các tội phạm đàn ông lì lợm nhất đã bị cách ly trên một hành tinh không có người ở, nơi đó họ phải tự xoay sở mà sống. Nhận ra nhu cầu phải thiết lập một trật tự chính trị, các tù nhân đã chọn lời thề giữ mình trong sạch làm nguyên tắc nền tảng. Nhờ thế, họ có thể sống một cách thoải mái trong lối sống gần như đan viện này. Tuy nhiên, sau đó, người ta gửi tới họ một nữ phi công tên Ripley. Cô ta phá bỏ lời thề bằng cách ăn nằm với vị bác sĩ của các tù nhân. Vì thế, lẽ dĩ nhiên, vị bác sĩ này phải chết trong tay con quái vật. Ripley cố gắng chiến đấu với con quái vật đó, nhưng không thành công. Vì luật sắt của loại phim khiếp đảm đòi buộc chỉ có trinh nữ mới có thể đánh bại quái vật mà thôi. Thực ra, ta thấy trứng của con quái vật đã được ‘cấy’ vào Ripley ngay trong chuyến du hành cô tới đây. Tính biểu tượng ở đây khá hoàn bị: con quái vật thực sự chính là Eros; nó vốn không bị trói buộc bởi trật tự luân lý và đã nằm sẵn trong chính bản ngã ta khi ta đầu hàng nó. Khỏi cần nói ta cũng thấy rằng sự phản bội của Ripley đối với nguyên tắc nền tảng của hành tinh này sẽ đem tai họa lại cho mọi cư dân của nó. Cô ta chỉ có thể tự cứu chuộc mình qua một hành vi hoàn toàn tự hiến sinh bằng cách tự gieo mình vào chảo kim khí nóng chẩy, trong khi con quái vật xé nát lồng ngực cô ra. Cô ta lao mình xuống đó trong trạng thái vươn hai cánh tay ra như hình thập tự. Một lần nữa, ta lại thấy Eros hoàn toàn phóng túng đã dẫn tới sự tự hủy hoàn toàn, dù có đôi chút ý nghĩa cứu chuộc, như trong trường hợp này.

Điều duy nhất có thể thuần thục hóa được Eros và hướng nó tới một cùng đích có thể thoả mãn được đam mê tính dục là tình yêu, là thứ tình sẽ dẫn Eros ra khỏi sự chết, và đúng hơn, theo nghĩa đen, dẫn nó tới sự sống mới. Khi một con người đặc thù nào đó trở thành đối tượng của tình yêu, thì không ai có thể thay thế người này được. Tình yêu đòi độc chiếm, và tính độc chiếm đó, ta tìm thấy nơi hôn nhân. Thèm muốn nên một trong kết hợp phu phụ cũng là thèm khát được mầu mỡ đơm bông kết trái. Việc hiến thân trong mê dại và toàn diện của hành vi phu phụ là một khẳng nhận đầy hân hoan khả thể muốn có được nhiều hơn, nơi con cái.

Văn minh là biết nhận người khác như một hữu thể nhân bản

Khiêu dâm là một lừa dối, một giả mạo vì nó mô tả “tình yêu” mà chả có tình yêu chút nào. Khi con người kia không được yêu thương, thì khiêu dâm quả chỉ đòi hỏi việc phi nhân bản vị (depersonalization) và tính nặc danh. Với tính dục khiêu dâm, việc thay ‘ngựa’ không những là việc có thể chấp nhận được mà còn chủ yếu nữa. Như nhà thần học Josef Pieper từng nói, khiêu dâm lột bỏ chiếc lá che khỏi các bộ phận sinh dục và đặt nó vào mặt con người. Khiêu dâm không phải chỉ lột bỏ áo quần người dự cuộc; nó lột bỏ chính tính người của họ.

Hành vi chính yếu của văn minh là nhìn nhận người khác như một hữu thể nhân bản. Khiêu dâm ‘treo chén’, nếu không muốn nói là kết liễu, hành vi nhìn nhận kia vì nó phi nhân hóa cả đối tượng lẫn chủ thể. Solzhenitsyn có lần tự hỏi, “nếu mất đi các ý niệm tốt xấu, thì ta còn lại gì? Chẳng còn lại gì hết ngoại trừ sự thao túng lẫn nhau. Ta sẽ thoái hóa xuống hàng thú vật”. Câu nói của Solzhenitsyn cho thấy rõ các vấn đề chính trị của khiêu dâm. Làm thế nào cai trị được các con vật? Chúng có cần tự do ngôn luận hay không?

Giải pháp thay thế

Giải pháp thay thế cho khiêu dâm không làm người ta mất tự do như Forman nghĩ, nhưng giúp duy trì sự tự do đó. Kiểm duyệt khiêu dâm là dấu chỉ của một xã hội lành mạnh về luân lý, một xã hội biết phân biệt giữa tục tĩu nhầy nhụa và tự do ngôn luận. Từ thời các vị lập quốc cho tới những ngày gần đây, nước Mỹ vẫn là nơi không những ngăn cấm văn hóa khiêu dâm hạng nặng mà còn dùng luật lệ và thuần phong mỹ tục mà khích lệ các cuộc sống đức hạnh. Các ảnh hưởng có tính đào luyện này cho người ta thấy rõ: việc làm tình nằm trong bối cảnh gia đình. Lời dạy dỗ đó không phải là kết quả của thẹn thùa (prudery), mà là hoa trái của khôn ngoan chính trị và luân lý, vốn tạo căn bản cho một xã hội tự do.

Thiếu vắng kiểm duyệt là dấu chỉ của một xã hội không còn chú ý chi tới các phân biệt trên hay đã đánh mất khả năng thực hiện các phân biệt ấy. Chính vì thế, việc luật pháp thừa nhận cho khiêu dâm hiện hữu gây hại tới cả những người không sử dụng nó. Tại hầu hết các sạp báo (hay các máy TV cáp hệ), người ta thường thấy tạp chí Playboy nằm cạnh tạp chí Good Housekeeping. Người có suy nghĩ học được gì khi thấy cái lối sắp xếp cận kề quái dị đó? Vì lối sống do Playboy tuyên truyền chắc chắn thù nghịch với lối sống do tạp chí nội trợ kia chủ trương. Thế nhưng ở đây, chúng nằm kề nhau, mời bạn tự do chọn lựa! Nói cách khác, chắc người ấy sẽ thấy ra điều này: đây chỉ là vấn đề công chúng dửng dưng đối với việc sử dụng đúng hay sử dụng không đúng việc làm tình mà thôi. Nói chính xác hơn, việc bán buôn hợp lệ các văn hóa phẩm khiêu dâm muốn dạy người ta rằng: chẳng có sự phân biệt nào cả. Nếu người ta chịu học bài học này, thì đường ranh phân cách làm gì còn nữa? Nếu làm tình chỉ còn là một hình thức chơi vui hay giải trí, thì có gì là sai khi người ta kê gian (sodomy), đồng dâm nam (pederasty) hay ngay cả loạn luân? Chúng ta từng xuống sâu con đường này đến độ ngày nay, công chúng chỉ còn lại một chống đỡ duy nhất chống lại khiêu dâm là việc bảo vệ trẻ em. Mọi luận chứng khác đều biến mất hết.

Trong tình thế ấy, cố gắng tái lập kiểm duyệt trong đoản kỳ là một việc khó khăn và gần như không hữu hiệu về phương diện chính trị. Cố gắng ấy đã không thành công với Augustus Caesar, người đã cố gắng tái lập việc kiểm duyệt nhưng đã thất bại không ngăn được đà thoái hóa của xã hội La Mã. Điều đầu tiên cần có và quan trọng hơn nhiều là tái lập tính nhậy cảm đối với việc ngăn cấm chống lại sự mạo phạm (desecration) tính dục. Việc tái lập này không phải chỉ là việc của tôn giáo, mà phải là quan tâm chính trị sâu xa đối với tương lai của tự do. Tự do ấy đang bị lâm nguy lớn do hậu quả của khiêu dâm. Làm tình quan trọng đến độ lạm dụng nó đã trở thành phương tiện chính để người ta triệt hạ văn hóa và trật tự chính trị. Chúng ta đã tự làm cho mình mù lòa không nhìn ra mối liên kết giữa văn hóa khiêu dâm và việc tan vỡ gia đình (những người có con hiện chỉ chiếm 25% dân số Mỹ), tội ác tràn lan về tình dục (tăng 236 lần tại các trường công kể từ năm 1994), số con cái đẻ hoang gia tăng một cách ngoại thường (một trong ba trẻ mới sinh), phá thai (một triệu rưỡi một năm), và hiện tượng thô tục hóa nền văn hóa của ta một cách không kiêng nể. Ấy thế mà dù văn hóa khiêu dâm đang làm xã hội ta băng hoại như thế, vẫn không thấy một ai dám nhắc đến nó như nguyên nhân chính gây ra cảnh sa đọa của ta. Livy đề cập tới loại tê liệt trên khi ông than tiếc cảnh xuống dốc của Rôma xưa: “Ta đã tới ngày không còn chịu được cái xấu của mình và phương thuốc chữa trị các cái xấu đó”. Liệu ta có nên than thở như bà Agave của Euripides: “Dionysius đã đánh bại chúng ta. Ta thấy điều ấy quá trễ rồi”?

Theo Robert R. Reilly, InsideCatholic.com 18-02-2009
Vũ Văn An

"Hay de cac tre nho den cung Chua Gie-su Kito "


Tác hại của văn hóa khiêu dâm đối với trẻ em

Bản tin Zenit hồi tháng Mười năm rồi có đăng một bài phân tích của linh mục John Flynn, LC, về tác hại của văn hóa khiêu dâm người lớn đối với trẻ em. Theo cha Flynn, bảo vệ trẻ em khỏi bị khai thác về tính dục hiện là một ưu tiên đối với nhiều cơ quan chính phủ cũng như tư nhân. Tuy thế, một phúc trình gần đây cho hay người ta vẫn làm chưa đủ trong cố gắng chống lại các tai hại do văn hóa khiêu dâm của người lớn gây ra cho trẻ em.

Tháng Chín vừa qua, tổ chức “Morality in Media” (Luân Lý trong Truyền Thông), một tổ chức bất vụ lợi đặt trụ sở tại New York, cho công bố một bản nghiên cứu tựa đề là “Văn hóa khiêu dâm người lớn góp phần ra sao vào việc khai thác tình dục trẻ em”. Bản nghiên cứu này cho rằng nhiều cơ quan chính phủ cũng như nhiều nhóm tư nhân hiện đang làm ngơ các hậu quả tai hại của điều được họ gọi là “cuộc bùng nổ” nền văn hóa khiêu dâm hạng nặng của người lớn trên hệ liên mạng và nhiều nơi khác.

Theo phúc trình trên, nền văn hóa khiêu dâm người lớn đe dọa trẻ em nhiều cách:

-- Những kẻ tồi bại sử dụng sản phẩm của nền văn hóa này để dẫn dụ các nạn nhân của chúng;

-- Một số kẻ tồi bại tiến từ việc coi các sản phẩm văn hóa khiêu dâm người lớn qua việc coi các sản phẩm văn hóa khiêu dâm trẻ em;

-- Nhiều kẻ tồi bại thực hành những điều họ thấy trong các sản phẩm văn hóa khiêu dâm người lớn với các đĩ điếm trẻ em, và nhiều tên ma cô ma cạo sử dụng các sản phẩm văn hóa khiêu dâm người lớn để huấn luyện các đĩ điếm trẻ em;

-- Trẻ em bắt chước tác phong chúng thấy trong các sản phẩm văn hóa khiêu dâm người lớn với các trẻ em khác;

-- Việc nghiền văn hóa khiêu dâm người lớn phá hủy hôn nhân, và con cái của những gia đình chỉ có cha hoặc mẹ đơn lẻ dễ bị khai thác về phương diện tình dục.

Dẫn dụ

Robert Peters, tác giả bản phúc trình trên và cũng là chủ tịch của “Morality in Media”, cho hay: mấy thập niên trước đây, khi nghiên cứu các vụ án, ông đã gặp nhiều trường hợp điển hình liên quan tới việc khai thác tình dục trẻ em trong đó các phạm nhân người lớn đã từng chiếu hay cho nạn nhân trẻ em coi các sản phẩm văn hóa khiêu dâm người lớn như là một bước trong diễn trình dẫn dụ chúng.

Theo ông, từ trước đến nay, người ta vẫn tranh luận để tìm hiểu xem liệu nền văn hóa khiêu dâm của người lớn có phải là nguyên nhân gây ra các tội ác về tình dục hay không. Nhưng căn cứ vào kinh nghiệm riêng, ông nghĩ rằng dù người ta chưa nhất trí đối với nguyên nhân trực tiếp của nó, thì việc những tên tồi bại sử dụng nền văn hóa khiêu dâm của người lớn để gợi dục và vô cảm hóa các nạn nhân trẻ em của chúng chắc chắn đã là một cách góp phần gây hại của nền văn hóa này.

Nhận định của Peters không hẳn chỉ là ý kiến cá nhân. Vì một trong các phụ chương của phúc trình có chứa tới hơn 100 trang các trích đoạn từ các bản tin cũng như án tòa cho thấy các phạm nhân đã cho trình chiếu hay cho các trẻ em coi các sản phẩm khiêu dâm người lớn hay bắt các trẻ em phải coi các sản phẩm ấy.

Bản phúc trình trên tiếp tục cho hay: với thời gian, những người nghiền nền văn hóa khiêu dâm càng ngày càng cần những sản phẩm khiêu dâm lộ liễu và xấu xa hơn, hệt như những người nghiền ma túy vậy. Do đó, mỗi ngày họ mỗi cần nhiều kích thích hơn mới có được cùng một hiệu quả như trước.

Peters cũng cho hay: càng ngày càng có khuynh hướng muốn thủ diễn các tác phong nhục dục thấy trong các sản phẩm khiêu dâm. Như thế, những người sử dụng văn hóa khiêu dâm không phải là những người tiêu thụ thụ động, nhưng họ sẵn sàng thực hành điều họ thấy trong các sản phẩm đồi trụy ấy.

Các đe dọa của truyền thông

Đề cập đến chính các trẻ em, phúc trình trên cho rằng nếu một em nhỏ nào đó dám bước vào một tiệm bán đồ khiêu dâm, chắc chắn người ta sẽ ngăn cản em, vì bán đồ khiêu dâm cho trẻ em là điều phạm pháp. Nhưng ngược lại, nếu em bé đó “click” vào bất cứ trang mạng thương mại chuyên phân phối sản phẩm khiêu dâm nào, thì làm gì có ai ngăn cản, em mặc tình coi miễn phí các sản phẩm ấy, coi không hạn chế! Theo nguyên tắc, trách nhiệm ngăn cản ấy nằm trong tay cha mẹ. Họ phải dùng các đồ lọc (filters) để chu toàn trách nhiệm trên. Peters cho rằng: đã đành cha mẹ là những người đầu tiên có nhiệm vụ bảo vệ con cái khỏi các trang mạng tồi tệ. Nhưng dù các cha mẹ có cố gắng đến đâu, con cái họ vẫn có khả năng vào được các trang mạng khốn nạn trên bên ngoài gia đình hay nhờ các dụng cụ di động. Chỉ cần một em nào đó trong nhóm vào được các trang mạng đó là cả nhóm vào được.

Một trong các kết luận của bản phúc trình là lời khẩn khoản yêu cầu các giáo hội và các tổ chức tôn giáo khác hãy làm hơn nữa để đương đầu với tệ nạn văn hóa khiêu dâm của người lớn. Văn hóa khiêu dâm là một vấn đề không những đối với những người vô tôn giáo mà đối với cả những người có tôn giáo nữa. Các phương tiện truyền thông về tin tức và tiêu khiển phải hỗ trợ bằng cách tra vấn việc sản xuất và tiêu thụ văn hóa khiêu dâm, chứ không nên dửng dưng coi chúng như không có ý nghĩa gì về phương diện luân lý hay xã hội.

Đời sống gia đình

Việc bản phúc trình này cho rằng văn hóa khiêu dân đang phá hoại đời sống gia đình và trẻ em không hề là một ý kiến riêng rẽ. Tại Úc, trong một bài báo hồi tháng Ba năm 2009, tờ Sydney Morning Herald đã thuật lại hoàn cảnh một người đàn ông có gia đình bị khám phá mắc chứng nghiền văn hóa khiêu dâm. Hậu quả của cơn nghiền này hết sức đáng buồn. Bài báo này cho hay: năm 2008, các huấn đạo viên bằng điện thoại tại Mensline Australia báo cáo có sự gia tăng 34% các cú điện thoại từ những người đàn ông cho biết văn hóa khiêu dâm đang trở thành một vấn đề đe dọa mối tương quan hôn nhân của họ.

Khả năng có thể xem các sản phẩm khiêu dâm trên máy vi tính hay điện thoại di động đã phá bỏ mọi rào cản từng ngăn trở người ta trước đây, nghĩa là sự mắc cỡ khi phải bước vào một tiệm bán đồ khiêu dâm để mua hay để thuê một tạp chí hay một cuộn băng video.

Bài báo trên cho hay thêm: đối với phụ nữ, đây cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Phần lớn phụ nữ coi việc người phối ngẫu của họ sử dụng văn hóa khiêu dâm như một tội bất trung. Đó là nhận định của nhà xã hội học Michael Flood. Ông cho biết thêm: “Ngay cả lúc người chồng trung thực trong truyện này, một số phụ nữ vẫn coi việc anh ta sử dụng văn hóa khiêu dâm như một thứ ngoại tình”.

Trong khi đó, nhà duy nữ Naomi Wolf, trong một bài báo trên tạp chí Times ngày 4 tháng Tư năm 2009, ví mối liên hệ giữa kỹ nghệ khiêu dâm nhiều tỷ đô-la và việc thèm khát tình dục với mối liên hệ giữa những phần ăn quá cỡ và bệnh mập phì. Bà viết: “Việc nhìn đâu cũng thấy hình ảnh khiêu dâm không hề giải thoát quyền lực Dâm Tính (Eros), nhưng làm cho quyền lực ấy loãng ra”.

Nhiều chứng cớ khác cho thấy hậu quả của hiện tượng trên đối với trẻ em được trình bày trong một bài báo trên tờ Ottawa Citizen ngày 29 tháng Năm năm 2009. Tác giả bài báo là Richard Poulin, giáo sư xã hội học tại Đại Học Ottawa. Tại một cuộc hội nghị ở Montréal với chủ đề “Youth, Media and Sexualization” (Tuổi Trẻ, Truyền Thông và Nạn Tình Dục Hóa), ông cho hay: những vụ tấn công tình dục hiện đang được những người trẻ tuổi hơn thực hành đối với các nạn nhân ít tuổi hơn của chúng. Hơn nưa, một cuộc thăm dò được ông thực hiện giữa các sinh viên của Đại Học Ottawa cho thấy tuổi trung bình của những người lần đầu tiên nhìn xem sản phẩm khiêu dâm là 13. Tuy nhiên, tuổi trung bình ấy còn thấp hơn nữa nơi những người có cha mẹ lưu trữ văn hóa phẩm khiêu dâm trong nhà: có khi chỉ là 10 hay 11 tuổi! Ông cũng trích dẫn một cuộc thăm dò khác để nói rằng: một trong 5 người đàn ông tuổi từ 22 tới 23 đã thú nhận là họ bị lôi cuốn bởi các em gái 13 tuổi về phương diện nhục dục. Ông bảo “Đó không phải là một chiều hướng tầm phào”.

Môi trường lành mạnh

Trong bài diễn văn trước các vị giám mục Hoa Kỳ nhân chuyến viếng thăm New York và Washington D.C. năm 2008, Đức Bênêđíctô XVI có đề cập tới vấn đề văn hóa khiêu dâm. Ngài nhận định: “Trẻ em xứng đáng được lớn lên với một hiểu biết lành mạnh về tính dục và vị trí thích đáng của nó trong các mối liên hệ nhân bản. Cần phải tránh cho chúng các biểu hiện hạ cấp cũng như các khai thác thô bạo về tính dục hiện đang rất thịnh hành ngày nay”. Theo ngài, trẻ em có quyền được dạy bảo các giá trị luân lý chân chính, tức các giá trị đặt căn bản trên phẩm giá con người. Đức Giáo Hoàng cật vấn: “Nói tới việc bảo vệ trẻ em còn có nghĩa gì không khi văn hóa khiêu dâm và bạo lực được quá nhiều gia đình thưởng ngoạn nhờ truyền thông phổ biến rộng rãi ngày nay?”. Muốn đương đầu với vấn nạn này, Đức Giáo Hoàng cho hay ta cần khẩn trương lượng định các giá rị hiện đang điều hướng xã hội hiện đại. Nếu ta thực sự quan tâm tới giới trẻ, ta phải có trách nhiệm cổ vũ và sống thực các giá trị luân lý chân chính. Theo ngài, các giá trị này sẽ giúp con người triển nở.

Vũ Văn An

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

sacerdos alter Christus


Giáo phận Kontum sắp truyền chức phó tế cho 12 đại chủng sinh


Kontum, ngày 04 tháng 01 năm 2010

Kính gửi: Quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, quý Chủng sinh
cùng toàn thể Gia đình Giáo Phận Kontum.

Anh chị em thân mến,
Trong niềm tri ân và tôn vinh Thiên Chúa, tôi hân hoan giới thiệu với toàn thể gia đình Giáo phận 12 thầy Đại chủng sinh cho thiên chức phó tế sắp tới:

1. Thầy Giuse Vũ Quốc Bình, sinh ngày 15-10-1975, thuộc giáo xứ Kitô Vua, Gp. Đà lạt, hiện thường trú tại TGM Kontum.
2. Thầy Luy Nguyễn Quang Hoa, sinh ngày 01-01-1966, thuộc giáo xứ Thánh Tâm, giáo hạt Pleiku.
3. Thầy Tôma thiện Lê Công Huy Khanh, sinh ngày 03-09-1978, thuộc giáo xứ Mẹ Vô Nhiễm Hoa Lư, giáo hạt Pleiku.
4. Thầy Phêrô Vũ Trọng Hà Nguyên Khôi, sinh ngày 31-01-1977, thuộc Gx. Duyên Lãng, Gp. Xuân Lộc, hiện thường trú tại TGM Kontum.
5. Thầy Antôn Hoàng Văn Lợi, sinh ngày 01-01-1960, thuộc giáo xứ Mỹ Thạch, giáo hạt Chư Sê.
6. Thầy Phêrô Nguyễn Đình Lộc, sinh ngày 30-04-1959, thuộc giáo xứ Ninh Đức, giáo hạt Chư Păh.
7. Thầy Phanxicô Xaviê Hồ Văn Phương, sinh ngày 09-04-1968, thuộc Gx. An Sơn, Gh. An Khê.
8. Thầy Tađêô Võ Xuân Sơn, sinh ngày 20-12-1977, thuộc giáo xứ La Sơn, giáo hạt Mang Yang.
9. Thầy Hiêrônimô Trần Văn Trạch, sinh ngày 22-04-1971, thuộc giáo xứ Mỹ Thạch, giáo hạt Chư Sê.
10. Thầy Giuse Võ Văn Trường, sinh ngày 10-11-1977, thuộc giáo xứ Thánh Tâm, giáo hạt Pleiku.
11. Thầy Gioan Nguyễn Hữu Tuyến, sinh ngày 09-12-1978, thuộc giáo xứ Phương Nghĩa, giáo hạt Kontum.
12. Thầy Phaolô Phạm Đức Vượng, sinh ngày 29-01-1965, thuộc giáo xứ Tiên Sơn, giáo hạt Pleiku.

Các Thầy này là người sống giữa anh chị em nhưng được kêu gọi và đặt lên để phục vụ anh chị em theo mẫu gương Chúa Giêsu Mục tử nhân lành. Vì thế, trước khi tiến lên lãnh nhận chức thánh này, tôi muốn tham khảo ý kiến anh chị em. Xin anh chị em vui lòng cho biết các nhận xét liên quan tới các Thầy chiếu theo lương tâm và tinh thần Giáo luật số 1043 đã ghi rõ: "Nếu biết có những ngăn trở lãnh nhận chức thánh, các Kitô hữu buộc phải trình báo cho Đấng bản quyền hay cho cha sở trước ngày truyền chức".

Nếu không có gì trục trặc, Thánh lễ truyền chức sẽ được tiến hành vào lúc 05g00 sáng ngày 05.02.2010, tại Nhà thờ Chính Tòa Kontum.

Xin anh chị em dâng lời tạ ơn Chúa và quan tâm đặc biệt hơn nữa tới công việc hướng dẫn cùng đào tạo ơn gọi linh mục, tu sĩ trong Giáo phận. Xin nâng đỡ để phát triển các gia đình ơn gọi tại mỗi giáo xứ.

Kính chúc anh chị em ân sủng và bình an của Chúa Kitô.

Hiệp thông,
Giám mục Giáo phận Kontum
+ GM Micae Hoàng Đức Oanh

LE HIEN LINH


Lễ Hiển Linh Bổn Mạng Hội Thừa Sai Paris có sự hiện diện của Hai Giám Mục Việt Nam

LỄ HIỂN LINH BỔN MẠNG HỘI THỪA SAI PARIS: HAI GIÁM MỤC
VIỆT NAM LÀ BIỂU TƯỢNG CÁC HIỀN SĨ ĐẾN TỪ PHƯƠNG ĐÔNG

Ngày 7-8-1683, nguyện đường Hội Thừa sai Paris được đặt tên là Épiphanie (Hiển linh), vừa là bổn mạng các cha thừa sai, lại vừa nói lên định hướng truyền giáo tại phương Đông.


Chủ nhật 3-1-2010, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam và Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Phó Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam là hai hiền sĩ phương Đông, sứ giả của Giáo hội Việt Nam cùng với Linh mục Jean-Baptiste Etcharren, Bề trên tổng quyền Hội Thừa Sai Paris, là vị đạo sĩ thứ ba. Cha Etcharren gốc xứ Basque (Euskal Herria) ở miền tây dãy núi Pyrénées, từng sống ở Việt Nam trong suốt 18 năm. Ngài thông thạo tiếng Việt, từng là cha sở Đông Hà (Quảng Trị), một họ đạo cách cố đô Huế 66 km, nằm ở giao điểm quốc lộ 1A và quốc lộ 3. Ba vị đạo sĩ, hai vị giám mục đến từ phương Đông và một linh mục có tâm hồn phương Đông, đã cử hành lễ Hiển linh cùng với trên 100 linh mục Pháp và châu Á hiện tu học tại Đại học Công giáo Paris, với sự bảo trợ của Hội Thừa sai Paris: 50 linh mục Việt Nam tu học tại Đại học Công giáo Paris, 13 linh mục Việt Nam học tại Đại học Công giáo Toulouse, 18 linh mục Ấn Độ, 9 linh mục Đại Hàn, 6 linh mục Trung Quốc, 7 linh mục Indonexia (nước có nhiều tín đồ Hồi giáo nhất thế giới), Myamar (Miến Điện): 2, Nhật Bản: 1, Kampuchia: 1 và Bangla Desh: 1.

Đức Ông Giuse Mai Đức Vinh, Giám đốc Giáo Xứ Việt Nam và Linh mục Thi sĩ Cung Chi cùng hiệp dâng Thánh lễ.

Hành trình tiến về Thành thánh Giêrusalem

Năm 1851, Charles Gounod đã sáng tác Ca khúc lên đường của các vị Thừa sai (Chant pour le départ des Missionnaires) và Ca khúc truy niệm các vị Tử đạo (Chant pour l’anniversaire des Martyrs). Các nốt nhạc hào hùng của hai bản trường ca đã trở thành lời chào mừng đầy ý nghĩa mà linh mục Etcharren đã tuyên đọc bằng tiếng Pháp, chúng tôi xin chuyển ngữ như sau:

‘‘Tiên tri Isaïa trình thuật cuộc hành trình của các dân tộc tiến về Giêrusalem: ‘‘ Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với người: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông’’.

Thưa quý thân hữu, chúng ta là thiện nam tín nữ tiến về Thiên Chúa vinh quang, vì thế hôm nay chúng ta tạm dừng chân trong nguyện đường Hiển linh này. Chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh toàn thể quý vị.

Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa về thời điểm ân phúc này, chúng ta được mời gọi dừng chân, bước vào lễ hội bằng cách nhìn quanh ta: thật là vui sướng dường bao khi nhận ra quanh ta những khuôn mặt con cái nam nữ của Thiên Chúa đồng hành với chúng tôi. Chắc hẳn tập họp này hãy còn khiêm tốn, nhưng hết sức đa dạng, biểu hiện được cuộc hành trình của các dân tộc tiến về thành thánh Jérusalem cửu trùng.

Năm nay, hình ảnh tập họp của chúng tôi đặc biệt huy hoàng nhờ sự hiện diện của hai vị giám mục ở giữa chúng ta, đến từ phương Đông, là nước Việt xa xôi. Các ngài đặc biệt đến đây để cử hành lễ Hiển linh. Chúng tôi hân hoan giới thiệu Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, giám mục giáo phận Đà Lạt, chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ngài sẽ chủ lễ và giảng thuyết trong lễ Hiển linh này.

Bên cạnh ngài là Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, giám mục giáo phận Nha Trang, Phó Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Viêt Nam. Trong số các nhiệm vụ của ngài trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ngài đặc trách liên lạc với Hội Thừa sai Paris với lòng nhiệt thành về án phong chân phước và phong thánh cho Đức Cha Pierre Lambert de la Motte và Đức Cha François Pallu là các đại diện tông tòa đầu tiên ở Việt Nam và vài tỉnh Hoa Nam vào năm 1659. Chúng tôi coi cả hai vị là các nhà sáng lập Hội Thừa sai Paris.

Thưa quý Đức Cha, chúng tôi cám ơn quý ngài đã nhiệt thành đáp lời mời của chúng tôi một cách tự phát, mặc dù công việc đa đoan và phải xử lý nhiều tình huống đôi khi là tế nhị.

Thiết tường chúng tôi nên nhường lời để Đức Cha nói lên những tình cảm đã thúc đẩy quý ngài đến cử hành lễ Hiển linh này. Về phần chúng tôi, chúng tôi xin thông báo sự hiệp thông nhiệt thành của chúng tôi đối với Giáo hội Việt Nam trong Năm Thánh mà quý ngài vừa khai mạc, tạ ơn Thiên Chúa về việc thành lập hai phủ đại diện tông tòa đầu tiên cách đây 350 năm và việc chính thức thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam cách đây 50 năm. Quý ngài đã vui lòng mời chúng tôi đến dự lễ khai mạc Năm Thánh ngày 24-11 vừa qua tại Sở Kiện, thuộc tổng giáo phận Hà Nội. Thật khó mà diễn tả sự xúc động của chúng tôi trước một rừng 100 000 tín hữu thành tâm cầu nguyện, nhưng ít ra tôi có thể đoan chắc rằng tôi cảm thấy vui hơn bao giờ hết được làm linh mục của Hội thánh Công giáo Tông truyền, và là thành viên của Hội Thừa sai Paris.’’

Quan hệ giữa Hội Thừa sai Paris và Giáo hội Việt Nam

Trong đáp từ bằng tiếng Pháp, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, đã nhắc lại lịch sử 350 năm truyền giáo của Hội Thừa sai Paris trên đất nước Việt Nam mà hoa trái ngày nay được thể hiện qua Năm Thánh 2010 trên khắp ba miền đất nước. Chúng tôi xin chuyển ngữ toàn văn diễn từ của Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn như sau:

‘‘Trọng kính Cha Bề trên Tổng quyền, quý Cha, quý Anh Chị Em trong Đức Kitô,

Đối với Đức Cha Giuse và chúng tôi, thật là niềm vui vô hạn và hạnh phúc đặc biệt được hiện diện ở đây cùng quý vị, trong thời điểm tạ ơn, cử hành lễ Hiển linh là bổn mạng Hội Thừa sai Paris năm 2010. Trước hết, chúng tôi muốn làm tròn nhiệm vụ cao quý của chúng tôi là chuyển đến Cha Bề trên lời chào huynh đệ của tất cả giám mục và cộng đoàn dân Chúa ở Việt Nam, với lời chúc Năm Mới ân phúc vừa khởi đầu. Thánh lễ Tạ ơn mà Cha Bề trên Tổng quyền khả kính đã yêu cầu tôi chủ lễ lại càng có ý nghĩa, vì quý Cha vừa cử hành vào năm 2008 đại lễ kỷ niệm 350 năm thành lập Hội Thừa Sai Paris vào năm 1658. Năm toàn xá bế mạc vào lễ Hiển linh 2009 trước Năm Thánh của chúng tôi kỷ niệm 305 năm thành lập vào năm 1659 hai đại diện tông tòa đầu tiên tại miền Bắc và miền Nam; việc thành lập Giáo hội Việt Nam từ khởi nguyên đã được trao cho Hội Thừa sai Paris, và 50 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam vào năm 1960. Hai lễ kỷ niệm đã được khai mạc trọng thể ngày 24-11-2009 tại Sở Kiện, thuộc Tổng giáo phận Hà Nội, đạt cao điểm với Đại hội Dân Chúa vào tháng 11-2010 tại Saigon thuộc tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh và sẽ bế mạc tại Trung tâm Thánh mẫu La Vang thuộc Tổng Giáo phận Huế vào lễ Hiển linh năm 2011. Các lễ kính tại Pháp và tại Việt Nam nhắc nhở một cách sống động quan hệ liên đới đã được tạo dựng từ hơn ba thế kỷ giữa Hội Thừa sai Paris và Giáo hội chúng tôi, sự hiệp thông được bắt đầu một cách cụ thể với trọng trách của Đức Cha François Pallu và Đức Cha Pierre Lambert de la Motte, vừa là sáng lập viên Hội Thừa sai Paris, đồng thời là các các chủ chăn tiên khởi của Giáo hội Việt Nam. Các ngài đã để lại dấu ấn sâu đậm, dấu ấn của Đức Cha François Pallu được cảm nhận trực tiếp về phần Hội Thừa sai Paris, và dấu ấn của Đức Cha Lambert de la Motte được Giáo hội Việt Nam trực cảm. Nhiệm vụ của hai vị bổ sung và không thể tách biệt nhau. Các ngài là các nhà đồng sáng lập Hội Thừa sai Paris cũng như Giáo hội nước Việt. Chính vì vậy, Hội Thừa sai Paris và Hội đồng Giám mục Việt Nam đồng ý là đồng tác giả, cùng ký tên vào thỉnh nguyện chung xin phong chân phước và phong thánh cho hai vị thừa sai có công, hai nhà khai sáng và là giáo phụ trong đức tin. Chúng tôi hy vọng rằng án chung tuyên phong chân phước và phong thánh lại càng tăng cường hơn nữa quan hệ liên đới vốn có giữa Hội Thừa sai Paris và Giáo hội Việt Nam. Chúng ta cùng cầu nguyện để án phong thánh chung này được Thiên Chúa ban ơn và mang lại kết quả mỹ mãn, vinh danh Chúa Ba Ngôi, đồng thời cổ vũ toàn thể dân Chúa ở Việt Nam làm chứng một cách xác tín đầy thuyết phục rằng Tin Mừng có trong tâm khảm các bậc giáo phụ trong đức tin và cũng để duy trì nhiệt tình truyền giáo của Hội Thừa sai Paris theo đường lối của các nhà sáng lập.

Chính trong ý nguyện đó, chúng ta bắt đầu cử hành phụng vụ Thánh thể và xin Chúa thứ tha mọi lỗi lầm của chúng ta.’’

Ánh sáng từ phương Đông (Lux ex Oriente)

Sau khi công bố Tin Mừng, Đức Cha Chủ tịch đã giảng bằng tiếng Pháp. Ngài nhắc lại ý nghĩa của lễ Hiển linh:

‘‘Hôm nay, trong ngày lễ Hiển linh, ánh sáng đích thực thế gian soi sáng các nhận vật đến từ các đất nước xa xôi. Đó là các đạo sĩ phương Đông (Mt 2,1). Nói đúng ra, Bê Lem nằm ở phương đông Athènes và Roma là các trung tâm văn minh Âu châu cổ đại, nhất là đế quốc La Mã thời bấy giờ được coi là trung tâm của thế giới đã biết. Vậy mà ánh sáng xuất hiện từ một thành phố xa lạ ở Palestine, gởi đi một thông điệp nhiệm mầu, qua ánh sáng mờ của vì sao nhưng không kém nhiệm mầu, từ phương Đông xa xôi mà không phải là phương Tây. Đó chính là mầu nhiệm ánh sáng từ phương Đông (lux ex Oriente) Các nhà đạo sĩ phương Đông xa xôi là những người đi tìm Chúa quan sát ‘‘cảnh sắc bầu trời và những dấu chỉ thời gian’’ (Mt 16,3), lên đường đi về hướng Tây so với nước họ, và họ đã gặp Chúa Kitô là Vua dân Do Thái, ở miền Cận Đông.’’

Sau đó, Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam nhắc lại nhận định của Đức Gioan-Phaolô II: ‘‘Chúa Kitô Cứu thế nhập thể là người châu Á’’. Ngài nói:

‘‘Còn một mầu nhiệm khác trong thời kỳ phúc âm hóa đầu tiên trực chỉ phương Tây, vì Tin Mừng được truyền bá từ Bê Lem là trung tâm của miền Cận Đông, nơi phát sinh ánh sáng thế gian, đến tận đế quốc Roma vốn là trung tâm thế giới được biết đến vào thời đại Chúa Kitô và Giáo hội sơ khai. Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông tạo thành toàn bộ phương Đông. Theo Đức Gioan-Phaolô II ‘‘Chúa Kitô Cứu thế nhập thể là người châu Á (Ecclesia in Asia, 1999)’’.

Nhiệm vụ truyền giáo tại châu Á

Trong phần kế tiếp, Đức Cha Chủ tịch đã nói về nhiệm vụ gieo hạt giống phúc âm trên đồng ruộng châu Á như sau:

‘‘Nhiệm vụ gieo hạt giống phúc âm trên dải đất Á châu thuộc về Gíáo hội hoàn vũ. Nhưng công bằng mà nói, các Giáo hội công giáo Tây phương được hưởng việc phúc âm hóa ngày từ thiên niên kỷ ki tô giáo đầu tiên; vào thiên niên kỷ thứ hai đã gởi nhiều vị thừa sai sang châu Á để làm chứng Đức Kitô và Phúc âm của ngài, theo Đức Gioan-Phaolô II và Đức Bênêdictô XVI, chứng từ này là một công trình cao trọng mà Giáo hội có thể mang lại cho đất nước Việt Nam và cho các dân tộc Á châu khác, đáp ứng được sự tìm kiếm sâu xa chân lý và những giá trị bảo đảm cho sự phát triển toàn diện con người. Chính nhờ các vị thừa sai dòng Tên được sự đỡ đầu của Bồ Đào Nha vào thế kỷ XVII đã mở ra những cộng đoàn kitô hữu ở hai miền Nam - Bắc, đồng thời góp phần lâu dài trong lãnh vực hội nhập văn hóa, như thể chế giáo lý viên, việc sáng lập chữ quốc ngữ trên cơ sở mẫu tự la tinh, việc biên soạn các sách giáo lý đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Sau đó, các vị thừa sai người Pháp của Hội Thừa sai Paris đã được Tòa Thánh gởi sang Việt Nam để tiếp nối công trình của các linh mục dòng Tên từ 1659, năm thành lập hai đại diện tông tòa tại miền Nam và miền Bắc. Tòa thánh bổ nhiệm các vị chủ chăn đầu tiên là Đức Cha Pierre Lambert de la Motte và Đức Cha François Pallu. Hai vị thừa sai quan trọng này đồng thời là các nhà sáng lập Hội Thừa sai Paris. Sau thời điểm này, các vị thừa sai châu Âu khác, đặc biệt là các cha dòng Đa Minh và dòng Phanxicô thuộc nhiều quốc tịch khác nhau đến Việt Nam góp phần vào việc phúc âm hóa. Sau thời gian bách hại đẫm máu kéo dài đến đầu thế kỷ XX, có thêm nhiều đợt các vị thừa sai châu Âu, nhất là các tu sĩ nam nữ đồng hành với cộng đoàn dân Chúa được tôi luyện trong thử thách. Nổi bật trong các công trình tốt đẹp này, Hội Thừa sai Paris đã mang lại nhiều đóng góp quan trọng trong việc phúc âm hóa đất nước chúng tôi. Vì vậy, Hội Thừa sai có công, qua Đức Cha Lambert de la Motte, và được sự tiếp sức của người bạn đồng chí hướng là Đức Cha François Pallu, đã tổ chức được các cộng đoàn kitô hữu son trẻ ở Việt Nam do các cha dòng Tên thành lập, trở thành một Giáo hội có cấu trúc, do các giám mục kế thừa các thánh tông đồ, cộng tác hài hòa với hàng giáo sĩ người Pháp, Giáo hội Việt Nam vào giai đoạn này gồm các vị thừa sai châu Âu và các linh mục Việt Nam, luôn được các giáo lý viên đào tạo trong các chủng viện không chính thức phụ giúp và một đội ngũ chức sắc giáo dân, được gọi là các quý chức của họ đạo, âm thầm và tự nguyện phục vụ cộng đoàn giáo hội, và các nữ tu tận hiên thuộc tu hội ‘‘Mến Thánh giá’’, do Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập năm 1670, không chỉ dấn thân trong các công tác mục vụ của giáo xứ, nhưng cả các hoạt động truyền giáo khác đến với muôn dân (ad gentes), nhất là trong lãnh vực giáo dục và từ thiện.

Công lao lớn nhất của Hội Thừa sai Paris là đã thành công, theo mục tiêu chính, đào tạo hàng giáo sĩ địa phương, cùng với các vị thừa sai người Âu, có thể đảm đương gánh nặng mục vụ và truyền giáo của một Giáo hội ngụp ngập suốt ba thế kỷ trong các cuộc bách hại đẫm máu với hàng trăm ngàn người được phúc tử đạo. Trong số này có 117 vị đã được nâng lên hàng hiển thánh năm 1988, một thày giảng trẻ đươc phong chân phước năm 2000. Trong danh sách này có hai giám mục, tám linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris. Trong số 126 giạm mục châu Âu từng lãnh trọng trách chủ chăn ở Việt Nam, có 76 vị (chiếm tỷ lệ 6/10) thuộc Hội Thừa sai Paris. Trong số 4 500 vị thừa sai được gửi sang Á châu trong dòng lịch sử 350 năm có 956 vị, chiếm tỷ lệ hơn 1/5, đã cống hiến sự gian khổ, nhiều khi là hy sinh cả tính mạng để kiến tạo Giáo hội Đức Kitô ở Việt Nam. Chỉ riêng con số này đủ nói lên sự hiệp thông đặc biệt cùng chung định mệnh giữa Hội Thừa sai Paris và Giáo hội Việt Nam.

Nhân khai mạc trọng thể Năm Toàn xá ngày 24-11-2009 vào lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam, nhân danh Hội đồng Giám mục và cộng đoàn dân Chúa, chúng tôi đã bày tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với các vị thừa sai người Âu đã dự phần vào việc hình thành và phát triển Giáo hội son trẻ đầy sức sống năng động. Chúng tôi cũng đã vinh dự có sự hiện diện của Đức Hồng Y André Vingt-Trois, Tổng Giám mục Paris đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp, Linh mục bề trên Tổng quyền Hội Thừa sai Paris. Tôi muốn lặp lại ở đây, trong Nhà Mẹ vào lễ bổn mạng của Hội, lòng biết ơn chân thành của về sự đóng góp không thay thế được mà Giáo hội Pháp mang lại, nhất là sự liên đới huynh đệ và sự hiệp thông định mệnh mà Hội Thừa sai đã chứng tỏ đối với Giáo hội son trẻ chúng tôi. Tình liên đới này còn được tiếp nối trong tình cảm thân thiết.’’

Tương lai tôn giáo ở châu Á

Trong phần kết luận Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nói đến toàn cảnh truyền giáo tại Á châu và tại Việt Nam trong những ngày sắp tới.

‘‘Để kết thúc, chúng tôi muốn chia sẻ cái nhìn tiên tri của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II về tương lai tôn giáo ở châu Á. Tôi đoan chắc rằng không có bao nhiêu người thực sự là vô thần trong lục địa rộng lớn này, bởi vì châu Á là cái nôi của những tôn giáo lớn trên thế giới; và các dân tộc châu Á từ ngàn xưa luôn có lòng mộ đạo. Họ là các dân tộc đi tìm Chúa, đi tìm một ý nghĩa, vì vậy tương hợp hầu như là bẩm sinh với linh đạo trở nên những người ‘‘Nghèo khó của Chúa’’, mặc dù ngày nay quyết định dấn thân theo đường lối phát triển kinh tế để xóa đói giảm nghèo. Đặc tính tôn giáo tự nhiên đi đôi với sự nhạy cảm về các giá trị thiêng liêng, có thể được coi là ‘‘tiền đề phúc âm’’. Tuy nhiên, thách đố lớn nhất đối với chúng tôi chủ yếu là khuynh hướng tự nhiên của người châu Á dễ theo gương lành hơn là các lý luận trừu tượng, vì vậy các người rao giảng phúc âm và giảng đạo xuất hiện không như các bậc thầy, mà như người chứng, hoặc hơn nữa là các bậc thầy nhưng đồng thời là người chứng, điều này vô cùng cần thiết. Vô số các tiền nhân Tử đạo của chúng tôi đã là các Chứng nhân cao cả trong quá khứ, ngày nay là bậc Thầy trong lãnh vực phúc âm hóa. Khi hướng tâm trí và tình cảm chúng tôi về các đồng bào ruột thịt, chúng tôi nhìn thấy Đức Kitô Phục sinh ở trung tâm, ngài là Chứng nhân trung thực và bậc Thầy tối thượng. Kinh nghiệm lịch sử của Giáo hội chúng tôi chứng tỏ việc phúc âm hóa chính là chặng đường Thánh giá, đồng thời chúng tôi ý thức rằng chỉ có con đường khổ nạn mới đưa đến niềm vui Phục sinh đích thực, sự vinh quang đích thực là vinh quang của Chúa Kitô Sống lại.

Chúng ta cùng cầu nguyện để ước mong tiên tri của Đức Gioan-Phaolô II, Người tôi trung của Chúa, sớm trở thành hiện thực.’’

Bài giảng của Đức Cha Chủ tịch được cộng đoàn, trong số có nhiều vị thức giả lắng nghe. Trong nguyện đường Hiển linh của Hội Thừa sai Paris có sự hiện diện của giáo sư Philippe Bordeyne, khoa trưởng Thần học và Tôn giáo học Đại học Công giáo Paris, giáo sư Michel Berder, giám đốc Cao học Đại học Công giáo Paris, nhiều giáo sư đại học Pháp, Việt và nhiều thân hào, nhân sĩ.

Trong phần hiệp lễ, linh mục Nguyễn Thanh Lý đã hướng dẫn cộng đoàn đồng ca ‘‘Đêm Đông’’ cùa nhạc sư Hải Linh: ‘‘Nơi hang Bê Lem huy hoàng ánh sao, đưa lối Ba Vua phương Đông đến chầu.’’

Hành trinh Ra Khơi (Duc ad Altum) trong Năm Thánh

Trong thánh lễ cử hành tại nguyện đường Hiển linh Paris, các Đức Cha Việt Nam đã bận phẩm phục giám mục đặc biệt của Năm Thánh 2010. Trên mão giám mục có huy hiệu ‘‘Ra Khơi’’ (Duc in Altum), vừa là lời mời gọi về nguồn với lịch sử 350 năm của Giáo hội Việt Nam, được thể hiện qua hải trình của các vị thừa sai cập bến cảng nước ta để rao giảng Tin mừng, lại vừa hướng về tương lai của Giáo hội Việt Nam.

Ngày 15-6-2003, Đức Hồng y Crescenzio Sepe, Tổng Trưởng Thánh bộ Truyền giáo và Rao giảng Tin mừng cho Muôn dân đã nhắn nhủ cộng đoàn dân Chúa Việt Nam như sau:

‘‘Tôi muốn khích lệ anh chị em hãy thực hiện với lòng can đảm và hăng say lời mời gọi ‘‘Ra Khơi’’ (Duc in Altum) mà Đức Gioan-Phaolô II đã đề ra cho Ngàn Năm Thứ Ba. Trong chương trình này, Đức Thánh Cha mời gọi Giáo hội và cộng đoàn dân Chúa ‘‘khởi hành với Chúa Kitô’’, Đấng cần được biết, được mến yêu và được noi gương để trong Người, và với Người biến đổi lịch sử, tiến tới viên mãn trong thành Giêrusalem Thiên Quốc. Đức Thánh Cha đã ấn định như hướng đi chung ‘‘nên thánh’’ như ưu tiên mục vụ hàng đầu cần phải huy động mọi sức lực để thực hiện.’’

Cuộc hành trình ‘‘Duc in Altum’’ trong Năm Thánh 2010 tiếp nối cuộc hành trình của ba nhà đạo sĩ phương Đông năm xưa lên kết Hội Thừa sai Paris và Giáo hội Việt Nam trong sứ mạng truyền giáo tại quê nhà để mỗi người dân Việt sẽ là một đạo sĩ: ‘‘Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài nhi và thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người.’’ (Mt 1,10-11).

Paris, ngày 4 tháng 1 năm 2010

Lê Đình Thông

Mẹ Thiên Chúa và Tiệc cưới Cana

Mẹ Thiên Chúa và Tiệc Cưới Cana
Mẹ ơi, Ảnh NTT


Bởi nét dịu hiền ngọt ngào của người nữ, trong văn hóa Việt Nam, người mẹ được ví với những thức ăn đậm đà hương thơm vị ngọt,

Mẹ già như chuối ba hương.

Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Bởi cưu mang và dưỡng nuôi là hai đặc tính thiên phú của người nữ, trong văn thơ, khi cần phải tô đậm nét quê hương và vùng đất của nơi chôn nhau cắt rốn, người ta hay nói quê mẹ và đất mẹ,

Chiều chiều ra đứng ngõ sau.

Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều.

Việt Nam và Do Thái là hai nền văn hóa lâu đời của thế giới, bởi thế cả hai có rất nhiều nét tương đồng. Nếu người Việt Nam đã từng được dạy dỗ, “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, người Do Thái cũng có điều răn thứ Tư của Mười Điều Răn, “Thứ Bốn thảo kính cha mẹ”, dạy dỗ con cái về Đạo làm con và làm người. Đức Giêsu là một người đàn ông Do Thái. Người sinh ra tại thành phố Bethlehem, vào khoảng năm 6-4 B.C. Bởi Đức Giêsu là người Do Thái, Ngài cũng tuân theo những luật lệ của xã hội Do Thái, đặc biệt là bộ luật Môisen, hay nói ngắn gọn là Mười Điều Răn. Một trong những điều luật căn bản này nói theo ngôn ngữ Do Thái là, “Thảo kính cha mẹ”, hoặc nói theo ngôn ngữ Việt Nam là, “Uống nước nhớ nguồn. Làm con phải hiếu”. Bởi vậy, độc giả Kinh Thánh không lạ chi, sau biến cố “lạc” trong Đền Thờ, cậu bé Giêsu vâng lời, theo bố mẹ về lại thôn làng Nazareth, và Ngài tiếp tục, lớn lên dưới sự dạy dỗ và dưỡng nuôi của dưỡng phụ Giuse và thân mẫu Maria (Luke 2:51-52).

Phép lạ Tiệc Cưới Cana là một câu chuyện Tin Mừng tô đậm nét hiếu thảo của Đức Giêsu đối với thân mẫu của Người. Trong khi quan khách đang ngà ngà say trong tiệc cưới, tự nhiên rượu cạn khô. Người Do Thái, trong những sinh hoạt hằng ngày, không uống trà xanh, Coke, hoặc bia, nhưng rượu. Bình thường còn như thế, nói chi tiệc cưới. Tiệc cưới cạn rượu, do đó, là một điềm xấu trong nền văn hóa Do Thái. Không rượu trong tiệc cưới, cô dâu chú rể chắc chắn sẽ mất mặt với hàng xóm, láng giềng. Mất mặt là một chuyện, lo sợ cho vận xám của đời sống lứa đôi trong tương lai là chuyện còn quan trọng hơn nhiều. Rượu cạn khô ngay giữa tiệc cưới là một điềm xấu, ý muốn nói sợi dây tơ hồng nối buộc cô dâu và chú rể của tiệc cưới Cana rất mỏng manh. Cho nên chỉ ngày một ngày hai, khi giông tố ào ào nổi lên, sợi dây tơ hồng này sẽ bị thổi đứt. Dưới lăng kiếng thần học, rượu bốc hơi, cạn khô, biến mất trong tiệc cưới là một điềm xấu, ý muốn nói ngay cả Giavê Thiên Chúa cũng không chúc lành cho đôi tân hôn.

Theo như thánh sử Gioan, không ai hay biết, chẳng ai hay rượu cưới đang bốc hơi cạn khô trên bàn tiệc Cana. Ngay cả ông quản tiệc, người có trách nhiệm về rượu của tiệc cưới, cũng không biết chi. Không ai biết, chẳng ai hay là điềm xấu đang đứng gõ cửa, thế mà Mẹ Maria đã tinh tế, nhanh nhẹn nhận ra tình trạng, “Nhà người ta hết rượu rồi” (Gioan 2:3). Và Mẹ quyết định hành động. Trước khi ông quản tiệc hay bất cứ người nào có dịp vỗ trán, đấm ngực, than thở, đổ lỗi cho nhau, Đức Mẹ tiến tới, nói với con của mình,

— Nhà người ta hết rượu rồi!

Thoạt tiên, Đức Giêsu từ chối can thiệp, nhưng Ngài giải thích với thân mẫu của mình,

— Giờ của con chưa tới (Gioan 2:4).

Trước lời giải thích đầy những nét thần học của Đức Giêsu, Đức Mẹ không nói thêm chi với Cậu Trưởng Nam. Quay sang những người hầu, Mẹ nói,

— Ngài nói chi, cứ làm theo (Gioan 2:5).

Điều luật thứ Tư trong bộ luật Môisen, “Hiếu thảo với bố mẹ”, hay “Làm con phải hiếu” trong “bộ luật” Việt Nam, là một trong những nguyên nhân chính giải thích thái độ lạ kỳ của Đức Giêsu trong tiệc cưới Cana; đó là, thoạt tiên trước lời yêu cầu của thân mẫu, Ngài từ chối, nhưng chung cuộc lại làm theo lời đề nghị của mẹ mình. Bởi người phụ nữ nói với Đức Giêsu câu nói, “Nhà người ta hết rượu”, là người đã từng cưu mang Ngài chín tháng mười ngày, nuôi dưỡng Ngài khôn lớn, Đức Giêsu cuối cùng đã đổi ý, và Ngài vâng lời Đức Mẹ. Thế là rượu thơm ngập tràn khắp nơi trong tiệc cưới. Rượu nồng nàn đôi má chú rể, tô hồng đôi môi cô dâu, long lanh ánh mắt quan khách. Người ta say với rượu, ngập tràn trong rượu. Rượu nổ vang tiếng cười tiếng nói trong tiệc cưới Cana. Nhìn dưới lăng kiếng thần học, Đức Giêsu chính là Chú Rể của Trời Cao, Người đã ban phát rượu tới quan khách của tiệc cưới Cana. Và bởi sự can thiệp của Mẹ Maria, tiệc cưới Cana lại ngập tràn rượu, khiến cho chú rể, cô dâu, và quan khách lại tiếp tục đỏ hồng đôi má.

Vào những giây phút cuối cùng của cuộc đời, trên cây thập giá, Đức Giêsu đã trối lại thân mẫu của Ngài cho người môn đệ được Ngài thương yêu, và người môn đệ cho Mẹ của Ngài (Gioan 19:26-27). Từ giây phút đó trở đi, Mẹ Maria đã trở thành không phải chỉ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng còn là Mẹ của tất cả những người được Thiên Chúa thương yêu, bồng ôm vào lòng, ân cần chăm sóc.

Suy Niệm

Bởi Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, và bởi Đức Giêsu là một người con hiếu thảo, hãy chạy đến với Mẹ những khi bạn cần người tâm sự, thổ lộ nỗi lòng của trăm khúc tơ vò, không biết bày tỏ cùng ai.

Riêng nói về rượu, chúng ta biết rượu có chất men làm cho người ta say nồng, yêu đời, đặc biệt trong tình yêu. Nhưng trong tình yêu, không phải lúc nào người ta cũng nồng nàn yêu nhau. Có những lúc thức giấc, vợ chồng bàng hoàng nhận ra nhà của mình đã hết rượu, rượu hôn nhân đã cạn khô, hai vợ chồng không còn yêu nhau nồng nàn, thắm thiết như thuả nào. Những lúc cạn rượu hôn nhân, mời bạn hãy chạy đến với Mẹ Thiên Chúa. Ngày xưa trong tiệc cưới Cana, chưa ai nhận ra rượu của tiệc cưới cạn khô, nhưng Mẹ đã tế nhị, nhận ra tình trạng chết kẹt của đôi tân hôn. Và thế là Mẹ can thiệp, ngay cả trước khi chú rể và cô dâu chạy đến mở miệng nhờ Mẹ giúp đỡ. Ngày hôm nay, vào những giây phút mà bạn cảm thấy cuộc sống hôn nhân lứa đôi đang bị đe dọa, nếu bạn chạy đến cầu nguyện với Mẹ, nói với Mẹ, “Mẹ ơi! Nhà con đã hết rượu rồi!”, chắc chắn rượu của tiệc cưới sẽ lại ngập tràn trong ánh mắt và đôi môi của chàng và của nàng.

Lời Nguyện

Lạy Chúa, bởi Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ cũng là Mẹ của chúng con. Cám ơn Chúa đã ban cho chúng con một người Mẹ dịu ngọt như chuối ba hương và tuyệt vời như vầng trăng rằm. Những lúc nhà của chúng con hết rượu, xin dạy chúng con biết chạy đến nói với Mẹ Thiên Chúa, “Mẹ ơi! Nhà con hết rượu rồi".

Để lắng nghe audio file của Mẹ Thiên Chúa và Tiệc cưới Cana, xin mời bấm vào link, www.nguyentrungtay.com
Nguyễn Trung Tây, SVD

The Pope Benedict XVI says : " Mother of God - Mary "


Đức Thánh Cha cử hành lễ Kính Mẹ Thiên Chúa và Ngày Hòa Bình Thế Giới

VATICAN -. ĐTC Biển Đức 16 đã cử hành trọng thể lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa và cũng là Ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 42. Ngài đặc biệt tái kêu gọi chấm dứt bạo lực tại miền Gaza.

Đồng tế với ĐTC trong thánh lễ lúc 10 giờ sáng ngày 1-1-2009 tại Đền thờ Thánh Phêrô, có 5 vị trong đó có ĐHY Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh và ĐHY Renato Martino, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình. Ngoài ra có 2 hồng y Phó tế tháp tùng ĐTC là ĐHY Jean Louis Tauran, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn và ĐHY Javier Lozano Barragán, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ y tế.

Trong số gần 10 ngàn tín hữu tham dự thánh lễ, cũng có đông đảo các vị đại sứ cạnh Tòa Thánh, 22 HY và 26 GM. Phần thánh ca, ngoài ca đoàn Sistina của Tòa Thánh, còn có 5 ca đoàn khác, gồm ca đoàn Mẹ Giáo Hội ở Roma với 100 ca viên, Ca đoàn Đức Mẹ Vô Nhiễm thuộc giáo phận Hartford Hoa Kỳ gồm 30 người, ca đoàn Reggio Emilia ở Italia với 65 ca viên và sau cùng là Ca đoàn Liban gồm 16 người. 70 LM phụ trách việc cho rước lễ được ngồi phía sau bàn thờ chính.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC nhắc đến lời cầu chúc như được trình bày trong bài đọc thứ I trích từ sách Dân Số (6,22-27). Các vị tư tế của Israel chúc lành cho dân bằng cách ”kêu cầu Danh Chúa ở trên họ”: Thánh Danh Chúa được kêu cầu 3 lần trên các tín hữu như lời cầu chúc ân sủng và bình an. Thói quen cổ kính này dẫn chúng ta đến một thực tại thiết yếu, đó là để có thể tiến bước trên con đường hòa bình, mọi người và các dân tộc cần được nhan thánh Chúa soi sáng và được Danh Chúa chúc phúc. Điều này xảy ra chung cục với mầu nhiệm Nhập Thể: Con Thiên Chúa đến trong xác thể như chúng ta và trong lịch sử đã mang lại một phúc lành không thể rút lại, một ánh sáng không còn tắt lịm nữa, và mang lại cho các tín hữu cũng như những người thiện chí khả năng xây dựng nền văn minh tình thương và hòa bình”.

ĐTC nói: ”Các bạn thân mến, đó là con đường Tin Mừng dẫn đến hòa bình, con đường mà Giám Mục Roma được kêu gọi kiên trì tái đề nghị mỗi lần trình bày Sứ điệp nhân ngày Hòa bình thế giới.”

Nhắc đến chủ đề Ngày Thế Giới hòa bình năm nay là ”Bài trừ nghèo đói, xây dựng hòa bình”, ĐTC nói: ”đề tài này có 2 bình diện cần cứu xét, mà giờ đây tôi chỉ có thể nhắc đến một cách vắn tắt. Một đàng là sự thanh bần được Chúa Giêsu chọn và đề nghị, và đàng khác là thứ nghèo đói cần phải bài trừ để thế giới trở nên công bằng và liên đới hơn.” ”Khía cạnh thứ I tìm được bối cảnh lý tưởng trong những ngày này, trong mùa giáng sinh. Sự giáng trần của Chúa Giêsu tại Bethlehem tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa đã chọn thanh bần cho bản thân ngài khi đến giữa chúng ta. Cảnh tượng mà các người chăn đoàn vật thấy trước tiên.. là một chuồng súc vật tại đó Đức Maria và Thánh Giuse trú ẩn, và tiếp đến là máng cỏ trong đó Đức Trinh Nữ đã đặt Hài Nhi mới sinh bọc trong tã (cf Lc 2,7.12.16). Thiên Chúa đã chọn sự nghèo khó ấy. Ngài đã muốn sinh ra như vậy, nhưng chúng ta có thể nói thêm rằng Chúa đã muốn sống và muốn chết khó nghèo như vậy. Tại sao? Câu trả lời là: chính tình yêu đối với chúng ta đã thúc đẩy Chúa không những làm người, nhưng còn trở nên nghèo. Trong đường hướng này, chúng ta có thể trích dẫn lời thánh Phaolô trong thư thứ 2 gửi các tín hữu thành Corinto: ”Thực vậy, anh em biết ơn của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta: vốn giàu sang Ngài đã trở nên nghèo vì anh em, để anh em trở nên giàu có nhờ cái nghèo của Ngài” (8,9).

Sang đến khía cạnh thứ hai, ”đó là sự nghèo đói bần cùng, mà Thiên Chúa không hề muốn và cần phải bài trừ, như chủ đề Ngày Thế Giới hòa bình hôm nay đã nói; đó là thứ nghèo đói ngăn cản không cho con người và các gia đình sống theo phẩm giá của họ; một thứ nghèo đói làm thương tổn công lý và sự bình đẳng, và qua đó, nó đe dọa cuộc sống chung hòa bình. Theo nghĩa tiêu cực này, cũng có những hình thức nghèo đói không phải về phương diện vật chất và nó cũng hiện hữu trong các xã hội sung túc và tiến bộ, đó là tình trạng bị gạt ra ngoài lề, thiếu thốn về quan hệ, về luân lý và tinh thần (Sứ điệp, số 2).

”Trong sứ điệp hòa bình, theo vết các vị Tiền Nhiệm của tôi, tôi muốn đặc biệt cứu xét hiện tượng phức tạp là sự hoàn cầu hóa, để thẩm định tương quan của nó với sự nghèo đói ở mức độ rộng lớn. Đứng trước những tai ương lan rộng như các bệnh truyền nhiễm khắp nơi (5), tình trạng nghèo đói của các trẻ em (5), cuộc khủng hoảng lương thực (7), rất tiếc là tôi phải tái lên tiếng tố giác sự gia tăng chạy đua võ trang không thể chấp nhận được. Một đàng người ta cử hành kỷ niệm Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền, và đàng khác người ta lại gia tăng các chi phí quân sự, vi phạm chính Hiến chương LHQ vốn đòi phải giảm tới mức tối thiểu các chi phí ấy (điều 26). Ngoài ra, sự hoàn cầu hóa loại bỏ một số hàng rào (8), vì thế cộng đồng quốc tế và mỗi quốc gia cần luôn cảnh giác, không bao giờ được giảm bớt sự cảnh giác đối với những nguy cơ xung đột, trái lại cần dấn thân để giữ cho tình liên đới luôn ở cao độ. Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay trên thế giới cần được nhìn theo chiều hướng đó và coi đó là một cuộc trắc nghiệm: phải chăng chúng ta có sẵn sàng coi cuộc khủng hoảng này, trong các khía cạnh phức tạp của nó, như một thách đố đối với tương lai hay không, chứ không phải như một sự khẩn cấp cần phải đưa ra những câu trả lời ngắn hạn mà thôi? Chúng ta có sẵn sàng cùng nhau duyệt lại một cách sâu xa về kiểu mẫu phát triển đang thịnh hành để sửa chữa nó một cách có phối hợp và sáng suốt hay không? Ngoài những khó khăn tài chánh hiện nay, cả tình trạng môi sinh của trái đất, và nhất là cuộc khủng hoảng văn hóa và luân lý, với những triệu chứng hiển nhiên ở các nơi trên trái đất càng đòi phải xét lại sâu rộng.”

Trong phần kết luận bài giảng, ĐTC mời gọi mọi người phó thác cho Mẹ Maria, Mẹ của Con Thiên Chúa, những ước vọng hòa bình: ”Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ ước muốn sâu xa được sống trong hòa bình, ước muốn xuất phát từ con tim của đại đa số dân Israel và Palestine, một lần nữa họ đang gặp nguy hiểm trầm trọng vì bạo lực ồ ạt tại miền Gaza trả đũa lại một bạo lực khác. Cả bạo lực, cả oán thù và nghi kỵ cũng là những hình thức nghèo đói cần phải bài trừ, và những thứ nghèo đói này kinh khủng hơn. Ước gì những hình thức nghèo đói này không trổi vượt! Theo nghĩa đó, các vị chủ chăn của các Giáo Hội tại Thánh Địa, trong những ngày đau buồn này đã lên tiếng. Cùng với các vị và các tín hữu rất quí mến của các vị, đặc biệt là các tín hữu thuộc giáo xứ nhỏ bé nhưng rất nhiệt thành tại Gaza, chúng ta hãy đặt dưới chân Mẹ Maria những lo âu của chúng ta đối với hiện tại và những lo sợ về tương lai, và cả niềm hy vọng chắc chắn rằng người ta không thể không lắng nghe, đáp ứng và mang lại những câu trả lời cụ thể cho khát vọng chung được sống trong hòa bình, an ninh và phẩm giá, nhờ sự đóng góp khôn ngoan và sáng suốt của mọi người.

Thánh lễ kết thúc lúc quá 11 giờ 45 và đúng 12 giờ trưa, ĐTC đã xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài để cùng với hơn 60 ngàn tín hữu tụ tập ở Quảng trường Thành Phêrô dưới trời mưa để đọc kinh Truyền Tin.

Kinh truyền tin

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC gửi lời chúc mừng đầu năm mới được bình an và mọi điều tốt lành tới tất cả các tín hữu hiện diện và những người theo dõi buổi đọc kinh qua các phương tiện truyền thông. Ngài nói:

”Những cầu chúc ấy được đức tin Kitô làm cho trở nên đáng tin cậy, khi đặt chúng trên căn bản biến cố mà chúng ta cử hành trong những ngày này là sự nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Thực vậy, với ơn Chúa và chỉ với ơn Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hy vọng rằng tương lai tốt đẹp hơn quá khứ. Đây không phải là tín thác nơi một vận mệnh thuận lợi hơn, hoặc nơi những cơ cấu phức tạp của thị trường hoặc tài chánh, nhưng là chính chúng ta cố gắng để trở nên tốt lành và có tinh thần trách nhiệm hơn, để có thể cậy dựa vào lòng từ nhân của Chúa. Đó là điều luôn luôn có thể vì Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua Con của Ngài (Dt 1,2), và tiếp tục nói với chúng ta qua lời giảng Tin Mừng và qua tiếng nói của lương tâm chúng ta. Trong Chúa Giêsu Kitô, con đường cứu độ đã được tỏ cho tất cả mọi người, ơn cứu độ này trước tiên là sự cứu chuộc tinh thần, nhưng bao trùm toàn thể con người, kể cả chiều kích xã hội và lịch sử nữa”.

ĐTC cũng quảng diễn vắn tắt về chủ đề Ngày Thế giới hòa bình năm nay ”Bài trừ nghèo đói, xây dựng hòa bình”, và ngài nói thêm rằng: ”Vào đầu năm mới, mục đích chính của tôi là mời gọi tất cả mọi người, các chính quyền và thường dân, không nản chí trước những khó khăn và thất bại, nhưng tái canh tân dấn thân. Phần hai trong năm 2008 đã làm nảy sinh cuộc khủng hoảng kinh tế sâu rộng. Cần đọc cuộc khủng hoảng này trong chiều sâu, như một triệu chứng trầm trọng đòi phải can thiệp tận gốc rễ. Như Chúa Giêsu đã nói, không nên vá miếng vải mới vào chiếc áo cũ (Mc 2,21). Đặt người nghèo ở chỗ thứ nhất có nghĩa là quyết liệt tiến tới tình liên đới hoàn vũ như Đức Gioan Phaolô 2 đã nêu bật sự cần thiết, phối hợp các tiềm năng thị trường với những tiềm năng của xã hội dân sự (Sứ điệp, số 12) trong sự liên lỉ tôn trọng luật pháp và luôn để ý tới công ích”.

”Chúa Giêsu Kitô không tổ chức những chiến dịch chống nghèo đói, nhưng ngài loan báo Tin Mừng cho người nghèo, để giải thoát toàn diện khỏi lầm than về tinh thần và vật chất. Giáo Hội cũng làm như vậy, qua công tác không ngừng rao giảng Tin Mừng và thăng tiến con người. Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, phù giúp mọi người cùng nhau tiến bước trên con đường hòa bình”.

Sau khi ban phép lành cho các tín hữu, ĐTC đặc biệt gửi lời chúc mừng Tổng thống và toàn dân Italia trong năm mới. Ngài cũng ca ngợi, khuyến khích và liên đới với các sáng kiến của các cộng đoàn Giáo Hội ở mọi đại lục nhân Ngày Hòa Bình Thế giới. Ngài chào thăm đông đảo các tham dự viên cuộc tuần hành ”Hòa bình ở các nơi trên mặt đất” do Cộng đồng thánh Egidio khởi xướng ở Roma và nhiều thành phố tại 70 nước trên thế giới. ĐTC cũng nhắc đến các thành viên Phong trào tình yêu gia đình đã canh thức đêm giao thừa vừa qua tại Quảng trường Thánh Phêrô để cầu nguyện cho các gia đình cũng như cho Đại gia đình Giáo Hội. Với tất cả mọi người, ngài cầu chúc dồi dào an bình và những điều thiện hảo trong năm mới.
LM Trần Đức Anh, OP